Cây lá trên rừng

cây sycamore
Cây sycamore
hoa dại lá giống như lá khoai mì
Cây này thoạt nhìn tưởng cây khoai mì nhưng nó to và xanh tốt lắm. Không ngờ có một đóa hoa màu trắng nhụy vàng nấp dưới tàng lá.
hoa dại nhìn gần
Nhìn gần
hoa dại
Trông có nét như hoa cosmos cánh hoa lại giống hoa mai. Tên của hoa là buttercup.
hoa rừng giống tương tự hoa kim ngân
Chắc cùng giòng họ với honeysuckle (kim ngân)
khóm hoa vàng bên thác
Cụm hoa vàng bên chân tường của spillway
ngọn cây khô
Ngọn cây khô
như con nhện khổng lồ
Giống như con nhện
nước dâng đầy con suối
Con suối sau cơn mưa nước chảy xiết
rừng lá xanh xanh
Rừng lá xanh xanh
Suối chảy mạnh
Thác nhỏ

Đi rừng sau ngày mưa. Mới đó mà rừng đã xanh một màu ngăn ngắt. Con suối sau ngày mưa trương phồng lên nước chảy xiết. Bạn đã có bao giờ nghe tiếng suối chảy chưa?

Đọc “Những Người Không Gặp Nữa” của Đoàn Tuấn

Đọc “Những Người Không Gặp Nữa” của Đoàn Tuấn.

Quyển hồi ký ngắn này do nhà xuất bản Trẻ thực hiện và cũng được đăng trên trang của nhà văn Lê Minh Quốc.

Tôi bắt đầu đọc Những Người Không Gặp Nữa vào lúc gần 8 giờ tối ngày thứ Sáu. Dự định đọc chừng 1 giờ đồng hồ rồi đi ngủ nhưng quyển sách quá hấp dẫn nên tôi đọc một mạch cho đến hết quyển sách. Chủ Nhật tôi đọc lại lần nữa, thong thả hơn. Tôi không được quen biết với Đoàn Tuấn. Tất cả những điều tôi biết về tác giả là do những chi tiết tôi thu thập trong quyển hồi ký ngắn này. Tác giả sinh vào khoảng năm 1960. Vào bộ đội năm 1978. Được giải thơ hạng A của Văn Nghệ Quân Đội năm 1983-1984.

Tôi thường tránh việc đọc những gì liên quan đến chiến tranh, nhất là chiến tranh Việt Nam vì loại tác phẩm này làm tôi thấy buồn. Khi tôi được giới thiệu quyển hồi ký này tôi cứ tưởng đây là một loại sách dạy về viết phim bản hay kịch bản. Cái lầm tưởng này là một cái duyên khiến tôi được đọc quyển hồi ký này.

“Những Người Không Gặp Nữa” là hồi ký chiến tranh của nhà văn Đoàn Tuấn, trong đó ghi lại những kỷ niệm về cuộc sống và cái chết của đồng đội của nhà văn trong cuộc chiến ở Kampuchia. Đoàn Tuấn muốn nhấn mạnh đến khía cạnh tâm linh của những người lính khi dấn thân vào hiểm nguy. Nhà văn tin rằng những người đồng đội có linh cảm cái chết sẽ đến với họ và anh chứng minh bằng những mẩu ký ức anh thu thập, tự anh chứng kiến, hay nghe người khác kể lại. Đây là một điều thú vị vì Việt Nam theo chủ nghĩa duy vật thế mà một nhà văn sinh ra và lớn lên trong chế độ này lại viết về khía cạnh duy tâm của đồng đội.

Thêm vào đó tác phẩm giúp tôi hiểu biết thêm cuộc chiến tranh của Việt Nam với Kampuchia từ năm 1978 cho đến 1989, cuộc sống gian khổ của những người thanh niên Việt Nam và những cái chết phi lý do chiến tranh gây ra. Tôi không dám dùng chữ hay để nói về quyển sách vì nó gây cho tôi mặc cảm tội lỗi như thể tôi đang thưởng thức những tình huống đưa đến cái chết của những người trẻ tuổi.

Tôi thích cách viết của Đoàn Tuấn; trong sáng, ngắn gọn, không đào sâu vào tình tiết khổ đau thê thảm từ cái chết của đồng đội nhưng anh cũng không tránh né khi cần phải đề cập đến những điều khốn nạn của chiến tranh. Ở một vài nơi anh có cái nhìn của một nhà thơ, ghi lại những hình ảnh đẹp và lãng mạn bên cạnh cái tàn khốc của chiến tranh.

Trong phần viết về Phạm Văn Khai[1] tác giả tả cảnh đạn pháo bắn qua bắn lại của hai bên:

“Say mê ngắm nhìn chiếc cầu vồng đỏ rực do pháo ta bắn sang bờ bên kia và pháo địch phản lại sang bờ sông bên này. Một cầu vồng lộng lẫy ngang trời đêm, một cầu vồng dưới đáy dòng sông đang cuộn xiết. […]”

Anh tả lại không gớm ghê cuộc chôn cất cái xác của một người đồng đội mà anh yêu mến tên là Hà Huy Lan. Cái xác đã rửa nát sau khi cả tuần lễ mưa dầm chưa kịp chôn, đụng đến đâu vỡ ra đến đó, tróc cả tóc và da đầu để lộ hộp xương sọ trắng hếu. Ruồi nhặng bám cả vào mặt mũi của anh.

Tôi không khỏi so sánh quyển hồi ký ngắn này với một vài truyện ngắn của Tim O’Brien, tác giả của tập truyện ngắn “The Things They Carried.” Điểm giống nhau của Đoàn Tuấn và Tim O’Brien là nhân vật của họ chiến đấu ở đất nước người, như cá bơi lạc vào dòng nước lạ. Nhân vật của cả hai chiến đấu với những bãi mìn và là nạn nhân của những cú bắn tỉa (bắn sẻ)*. Điểm khác nhau là Đoàn Tuấn viết hồi ký về sự thật còn Tim O’Brien thì viết truyện ngắn mang tính sáng tạo. Tôi không nói sáng tạo thì hay hơn hồi ký, mỗi thể loại có điểm mạnh riêng. Tuy nhiên vì tôi là người Việt tôi thích truyện của Đoàn Tuấn viết về người Việt hơn truyện của O’Brien viết về người Mỹ.

Đoàn Tuấn có tâm sự ở phần cuối quyển hồi ký là anh đã thử dùng một hai phương pháp để sáng tạo nhưng theo anh là chưa thành công. Tôi cho rằng nếu anh dùng một vài chi tiết có thật, biến Nguyễn Xuân V. thành nhân vật phản diện, khai thác sự xung đột giữa những người trong cuộc dẫn đến cái chết của Nguyễn văn Huyên và Hà Huy Lan, nhấn mạnh cá tính của mỗi người, vẽ ra tình huống trớ trêu. Để tránh tội xúc phạm đến đồng đội đã ra người thiên cổ hãy đổi tên tất cả những người liên hệ. Tôi tin anh có thể biến thành mẩu hồi ký này thành truyện ngắn, phim hay kịch.

Thêm một điểm thú vị nữa, hơn mười tám nhân vật được nhắc đến, mỗi người đều là một nhân vật có cá tính đặc biệt. Nhà văn có thể chọn một vài người, biến mỗi người thành nhân vật chính của một truyện ngắn và những truyện ngắn này có liên hệ với nhau như một chương trong quyển tiểu thuyết.

Trở lại với chủ đề những người ra trận có linh cảm là họ sẽ chết mà nhà văn Đoàn Tuấn nêu ra. Tôi không dám bác bỏ chủ nghĩa duy tâm vì điều mình không thấy không hẳn là không có. Tôi cho rằng những người vào sinh ra tử trong chiến tranh, ai cũng quan sát, phân tích, loại trừ và tổng hợp chi tiết của tình huống chung quanh, những kinh nghiệm rút ra từ quá trình quan sát và phân tích, tổng hợp cũng như loại trừ biến thành cái gọi là linh cảm. Những linh cảm này có khi đúng có khi không. Thí dụ như Đoàn Tuấn khi qua sông đã vốc nước rửa mặt nghĩ rằng nếu mình có chết thì cái mặt mình cũng được sạch sẽ. Anh đã có ý nghĩ là ở giữa trận mạc người ta có thể chết bất cứ lúc nào, đó là một phần của linh cảm. Nhưng anh may mắn vẫn còn sống sót để viết nên quyển hồi ký này. Và như thế là linh cảm của anh đã sai.

Một ngày trước khi tôi đọc “Những Người Không Gặp Nữa” tôi tình cờ đọc một hồi ký có tựa đề War (Chiến Tranh) của Sebastian Junger. Nói là tình cờ vì hồi ký này được in chung trong một tập truyện không hư cấu (non-fiction) về rất nhiều đề tài; khi bắt đầu đọc tôi cũng không biết là sẽ có chuyện chiến tranh. Điểm chung của các truyện này là truyện có thật. Junger bắt đầu tham gia cuộc chiến của một quốc gia không phải là quốc gia của anh ta với tư cách phóng viên chiến trường khi anh ta được ba mươi mốt tuổi. Anh chủ động chọn lựa đi vào chỗ nguy hiểm chết người. Anh sinh ra lớn lên trong một gia đình khá giả. Những năm hai mươi tuổi anh viết văn. Anh đi làm phóng viên chiến trường để có cảm giác mình là đàn ông, và trưởng thành. Những người đồng đội đã chết trên chiến trường của Đoàn Tuấn hoàn toàn không có được sự chọn lựa. Họ không đi tìm cảm giác mạnh để khẳng đính chất khí khái nam nhi của họ. Junger có một người bạn phóng viên chí thân cùng sống chết bên nhau nhiều lần. Và lần cuối cùng, Junger không thể đi cùng với người bạn này, và anh ta đã chết. Điểm giống nhau của Junger với Đoàn Tuấn là họ cùng nhận ra một sự thật khắc nghiệt. “Vấn đề chính không phải là bạn sẽ chết trong chiến tranh, mà chắc chắn là bạn sẽ bị mất người anh em, người đồng đội của bạn.”

[1] Đề nghị tác giả kiểm chứng lại. Ở phía dưới đoạn này lại viết tên liệt sĩ là Phạm Xuân Khai

* Thêm vào ngày 12 tháng Năm, 2017.

Dịch vài câu trích dẫn trong

The Stories of Your Life – Ted Chiang

“There is a joke that I once heard a comedienne tell. It goes like this: I’m not sure if I am ready to have children. I asked a friend of mine who has children, ‘Suppose I do have kids. What if when they grow up, they blame me for everything that’s wrong with their lives?’ She laughed and said, ‘What do you mean, if?”

That’s my favorite joke.”

Tôi có lần nghe một chuyện đùa do một phụ nữ chuyên về hài kịch kể lại. Câu chuyện như thế này: “Tôi không quả quyết lắm liệu tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để có con. Tôi hỏi ý kiến một người bạn đã có con rồi, ‘Giả dụ như tôi có con. Nếu như khi con tôi lớn lên chúng nó đổ lỗi cho tôi về tất cả những hư hỏng thất bại trong đời của chúng thì làm sao?’ Bạn tôi cười lớn rồi nói, Bạn có ý gì khi nói, nếu như?’”

“Đó là câu chuyện đùa mà tôi thích nhất.”

“For me, thinking typically meant speaking in an internal voice; as we say in the trade, my thoughts were phonologically. My internal voice normally spoke in English, but that wasn’t a requirement.” page 126

“Đối với tôi, suy nghĩ có nghĩa là tiếng nói trong nội tâm; chúng ta nói như vậy trong lãnh vực của chúng ta, tư tưởng của tôi được ghi lại bằng giọng nói. Giọng (nói) nội tâm của tôi thì nói bằng tiếng Anh, nhưng đó không phải là một điều phải như vậy.”

“I used to wonder what it was like to have one’s thoughts be manually coded, to reason using an inner pair of hands instead of an inner voice.”

“Tôi thường tự hỏi rằng không biết nó ra làm sao nếu tư tưởng của một người được đổi thành ra dấu bằng tay, để giải thích một điều gì đó người ta dùng đôi bàn tay trong nội tâm thay vì giọng nói trong nội tâm.”

“Humans had developed a sequential mode of awareness, while hetapods had developed a simultaneous mode of awareness. We experienced events in an order, and perceived their relationship as cause and effect. They experienced all events at once, an perceived a purpose underlying them all. A minimizing, maximizing purpose.” page 134

“Loài người đã phát minh ra cách nhận thức theo thứ tự trước sau, trong khi loài “thất túc” lại phát triển nhận thức cùng một lúc và ngay tức khắc. Chúng ta trải nghiệm vấn đề thực tế theo thứ tự và nhìn thấy quan hệ giữa những trải nghiệm nhận thức này theo cung cách nguyên nhân và hậu quả. Loài thất túc thì trải nghiệm tất cả mọi việc ngay cùng một lúc và tức khắc, và nhìn ra một mục đích bao gồm từ tất cả những điều này. Một thứ mục đích vừa giảm thiểu lại vừa phát huy.”

“The hetapods are neither free nor bound as we understand those concepts; they don’t act according to their will, nor are they helpless automatons. What distinguishes the hetapods’s mode of awareness is not just their actions coincide with history’s events; it is also that their motives coincide with history/s purposes. They act to create the future, to enact chronology.” p. 137

“Loài thất túc không được tự do cũng không bị ràng buộc theo sự hiểu biết của chúng tôi về những quan niệm ấy; họ không phản ứng theo ý định của họ, nhưng họ cũng không phải là loại ngu đần vô dụng. Điều đặc biệt về cách nhận thức của loài thất túc là không những hành động của họ trùng hợp với những biến chuyển sự cố của lịch sử mà những động cơ thúc đẩy hành động của họ cũng trùng hợp với lịch sử (hay/và mục đích). Họ hành động để sáng tạo nên tương lai, để thực hiện tiến trình lịch sử.

“Freedom isn’t an illusion; it’s perfectly real in the context of sequential consciousness within the context of silmultaneous consciousness. Freedom is not meaningful, but neither is coersion; it’s simply a different context no more or less valid than the other.”

“Tự do không phải là một hình ảnh minh họa; nó hoàn toàn có thật trong cái hoàn cảnh của ý thức xảy ra theo thứ tự trước sau  trong vòng hoàn cảnh của một ý thức xảy ra đồng thời. Tự do không có nghĩa lý gì cả, nhưng sự ép buộc cũng như thế; đó chỉ đơn giản là hoàn cảnh khác nhau, giá trị vững chắc của cái này không hơn hay kém cái kia.”

“Knowledge of the future was incompatible with free will. What made it possible for me to exercise freedom of choice also made it impossible to know the future.”

“Sự hiểu biết về tương lai thì không tương xứng với ý thức tự do. Điều giúp tôi có thể thực hiện sự tự do chọn lựa lại đồng thời khiến tôi không thể nào biết được chuyện tương lai.”

“Like physical events, with their causal and teleological interpretations, every linguistic event had two possible interpretations: as a transmission of information and as the realization of a plan.” page 140

“Như những sự kiện cụ thể, được diễn dịch theo thứ tự trước sau hoặc là theo cách xảy ra đồng thời đồng loạt, mỗi sự kiện ngôn ngữ có thể có hai cách dịch: hoặc là như một sự trao đổi thông tin hoặc là như một hiện thực hóa của một dự tính.”

Xem phim Arrival

Xin nói trước, đây không phải là bài review phim hay sách. Cứ xem nó như một trong những bài free writing hay chuyện nhảm của tôi.

Lâu rồi, trước khi Arrival được giải Oscar về âm thanh, cô út nhà tôi đã trò chuyện qua lại với các bạn của cô về nó. (Cá Linh học về linguistic, dĩ nhiên là đã cãi cha cãi mẹ để theo môn học này.) Trong cuộc trò chuyện với bạn bè cô nói đến một lý thuyết về ngôn ngữ được nhắc đến thoáng qua trong phim, Sapir-Whorf. Tôi muốn biết một chút xíu về đời sống tinh thần của cô nên tìm xem phim.

Tôi phải chờ ba tháng mới mượn được phim. Sách thì dễ mượn hơn nên tôi đọc trước, truyện “Story of Your Life” của Ted Chiang. Đây là một truyện ngắn rất thú vị của một nhà văn “trẻ” và “rất” “rất” (nhấn mạnh thêm một lần nữa) thông minh.

Ted Chiang không nhắc đến học thuyết Sapir-Whorf (linguistic relativity), mà lại nhắc đến một lý thuyết khác, Fermat’s principle, ánh sáng đi theo đường ngắn nhất, nhanh nhất. Sapir-Whorf là lý thuyết về ngôn ngữ, tóm gọn cho thật đơn giản để “tôi” có thể hiểu được, theo nghĩa mạnh là cách dùng (với những cấu trúc của) ngôn ngữ “xác định” (determine) quan điểm hay sự hiểu biết (world view or cognition) về thế giới. Hiểu theo nghĩa yếu hơn, nhẹ hơn, thì ngôn ngữ không xác định (determine) mà chỉ ảnh hưởng (influence) đến quan điểm hay sự hiểu biết của người dùng ngôn ngữ này.

Không có trong truyện của Ted Chiang, chỉ có trong phim Arrival, các nhà làm phim đã đơn giản hóa để người xem phim dễ hiểu, là nếu các khoa học gia trong lúc tìm hiểu trò chuyện với heptapod (loài bảy chân, dịch cho văn vẻ hàn lâm bác học một chút gọi là thất túc, được không?) đã cho người Trung quốc dùng bộ ngữ vựng của cuộc cờ “mahong” hay “majong.” Cái cấu trúc của ngôn ngữ mahong đưa đến chuyện tấn công, thắng thua, trong khi, Louise Banks, nhân vật trong phim, nhà ngôn ngữ học Hoa Kỳ và người cộng tác đã dùng bộ ngôn ngữ trung tính như human, eat, walk, … không hàm chứa tính hung hăng (aggression).

Phim có lẽ để kéo dài cho đủ hai tiếng đồng hồ, và có lẽ để thu hút khán giả, kẻo họ ngủ gục nếu chỉ làm phim thu gọn trong truyện ngắn của Ted Chiang, nên các nhà làm phim đưa vào lý thuyết tương đối của ngôn ngữ Sapir-Whorf. Và dựa vào lý thuyết này mà phát triển phim dẫn đến nền hòa bình của các chủng loại trong vũ trụ.

Truyện của Ted Chiang, điểm cốt lõi là tác giả đặt ra câu hỏi. Nếu “bạn” vì một nguyên nhân nào đó, biết được tương lai, sự hiểu biết này có thay đổi quyết định của bạn không?

Để giúp các bạn, những người chưa có dịp xem phim, tôi xin tóm tắt phim như thế này. Louise Banks, trong lúc giúp nhà cầm quyền “dịch” lại ngôn ngữ của loài thất túc, nàng học được ngôn ngữ của alien này. Ngôn ngữ này có cấu trúc không giống như cấu trúc ngôn ngữ của loài người. Chúng ta, loài người, dùng ngôn ngữ theo thứ tự trước sau, có bắt đầu có chấm dứt. Mỗi câu có một thời gian nhất định. Đọc một cuốn sách dài đòi hỏi chừng một ngày hay cả tuần. Alien heptapod “Thất Túc” dùng một cấu trúc ngôn ngữ khác. Loại ngôn ngữ này xảy ra ngay cùng một lúc biết cả tương lai trong hiện tại. Vì thấm nhập được ngôn ngữ này, Louise Banks biết được tương lai của nàng. Rằng nàng sẽ yêu và kết hôn với người cộng tác, sẽ có một đứa con, và cô con gái này sẽ chết sớm; trong sách nói 25 tuổi. Trong phim thì cô gái trẻ hơn chừng chưa đến đôi mươi.

Louise Banks đã chọn cách lấy chồng, sinh con, chồng bỏ dù biết là tương lai sẽ xảy ra như thế.

Trở lại với câu hỏi về lý thuyết ngôn ngữ nhưng mang tính triết lý được đặt ra trong truyện và phim. Tôi xin trích trong sách như sau:

“Knowledge of the future was incompatible with free will. What made it possible for me to exercise freedom of choice also made it impossible to know the future.”

Tôi hơi bí, không biết dịch ra tiếng Việt như thế nào vì tôi thiếu ngữ vựng tiếng Việt. Tuy nhiên đã làm thì phải liều, xin tạm dịch (hay dịch tàm tạm) như thế này. Bạn đọc xin vui lòng góp ý sửa chữa cho hoàn thiện hơn.

“Sự hiểu biết về tương lai thì không tương xứng với ý thức tự do. Điều giúp tôi có thể thực hiện sự tự do chọn lựa đồng thời cũng khiến tôi không thể nào biết được tương lai.”

Hiểu theo cách suy nghĩ đơn giản của tôi. Nếu tương lai là định mạng, bạn biết được tương lai, bạn có thể thay đổi định mạng không? Nếu thay đổi được thì nó không còn là định mạng nữa. Thay đổi được tương lai thì có thay đổi được quá khứ hay không?

Trong phim, alien “Thất Túc” biết được ba ngàn năm sau sẽ cần sự giúp đỡ của loài người, điều đó ám chỉ rằng các nhà làm phim tin rằng có thể thay đổi được tương lai. Còn Louise Banks thì chấp nhận tương lai dấn thân vào hiện tại.

Hết giờ rồi tôi phải đi làm. Sẽ viết tiếp và sửa chữa sau.

Giữa tuần rồi

Thế là đã thứ Tư, giữa tuần rồi, chỉ cần ráng thêm chút nữa là hết tuần. Có vài chi tiết mới trong việc làm của tôi. Thứ nhất, tôi được lên lương. Chỉ có 1.9 phần trăm thôi nhưng có còn hơn không, nhất là sau mười năm dậm chân (kêu trời) tại chỗ. Có người cằn nhằn bảo rằng it’s a big laugh. Còn tôi thì rất mừng, có lúc nghĩ mình không xứng đáng (dĩ nhiên không nên nói ra). Thứ hai, tôi có thêm project mới. Đến mùa xây cất, chắc là bận bịu nên ít “tám” hơn. Nói thì nói vậy, chứ viết với tôi như là thở vậy, thoi thóp thì cũng thở, vẫn thở.

Tôi thức giấc lúc ba giờ sáng, nằm yên trên giường nghe mưa. Mưa xuân. Mưa từ hôm qua suốt ngày, qua đêm, đến sáng mưa nhẹ hạt hơn. Tôi nghe tiếng thú cắn nhau trên đồi sau nhà. Tự hỏi không biết con mèo hoang Boyfriend có bị gì không. Con mèo vàng Ginger thỉnh thoảng vẫn đến ăn, trông nó đẹp đẽ sạch sẽ, như mới vừa chạy ra khỏi một căn nhà giàu có nào đó để rong chơi. Còn Boyfriend thì lấm lem vàng xỉn ở những chỗ có lông màu trắng. Cái chân đau bên trái phía sau có vẻ như đã lành dù đi vẫn còn hơi khệnh khạng. Buổi sáng trước khi đi làm tôi thường thấy nó nằm trong cái ổ ông Tám làm cho nó chờ ăn. Dẫu sợ trễ tôi vẫn hâm nóng canh và thịt gà mang thêm một ít thức ăn khô dành cho mèo cho nó. Lúc sau này nó béo to ra, có vẻ khỏe hơn.

Nằm trên giường tôi nhớ đến một chi tiết trong truyện “Cuốn Theo Chiều Gió.”  Bà mẹ của nàng Scarlett, trên giường hấp hối bỗng ngồi bật dậy gọi tên một người nào đó không phải là tên chồng bà. Như thể trong lòng một người đàn bà đoan chính hết mực yêu thương chồng con và tử tế với người chung quanh có dấu kín một bóng tối.

Rồi, như là một bà già lẩm cẩm, suốt đời chỉ bận rộn với sách vở phim ảnh, tôi nhớ đến một chi tiết trong phim “The Return of the King.”  Aragorn biết Éowyn một nữ chiến hữu có cảm tình với chàng, nhưng lòng chàng đã hướng về một nàng tiên sắp chết, Arwen. Với đầy vẻ muộn phiền, chàng nói có đôi chút ngậm ngùi. Nàng đặt tình yêu không đúng chỗ. Tôi chỉ là một bóng ma và chỉ là một bóng mờ (a ghost and a shadow). Nhớ đại khái nên nếu chi tiết tôi viết không chính xác xin bạn đọc tha lỗi.

Rồi tôi lại nghĩ đến những nhân vật nữ của Kim Dung. Nhà văn này có cái tài là ông tả một nhân vật nữ rất đẹp. Đẹp đến nỗi mình nghĩ là sẽ chẳng có nàng nào đẹp hơn nàng này. Thế rồi ông cho nhân vật nữ này yêu một mình. Và người nàng yêu đang theo đuổi một cách vô vọng một bóng hình khác. Điều này khiến người đọc không khỏi tự hỏi, cái nàng kia ắt phải đẹp hơn cái nàng này gấp bội phần. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn tức tối với mấy nhân vật nữ ngu ngốc này, sao không quay lại yêu đại cái anh chàng nào đó đang theo đuổi mình một cách tuyệt vọng thế kia. Mắc mớ gì cứ phải ôm trong lòng một bóng tối?

Hết ba mươi phút free writing rồi. Bạn kể tôi nghe đời sống của bạn đi,

Mùa xuân 2017

Năm nay không được mùa hoa đào và hoa mộc lan. Tháng Ba trời ấm hơn thường lệ. Lễ hội hoa đào báo tin năm nay hoa sẽ nở sớm, trước cả ba hay bốn tuần. Có một ngày đầu tháng Ba nhiệt độ lên đến 80 độ F. Búp hoa mọc mạnh. Rồi trở trời, lạnh, tuyết và mưa, búp hoa đào và mộc lan bị hư hết. Liên tiếp cả tuần nay, nhiệt độ trở lại bình thường năm mươi và sáu mươi, hoa đào và mộc lan nở thưa thớt.

Không được mùa đào và mộc lan, nhưng được mùa eastern redbuds (tôi đặt đại cho nó cái tên là hoa tử điểm hồng vì hoa nở lấm chấm đầy trên cây có màu hồng ngã sang tím nhạt). Trước nhà, sau nhà, trong rừng, thấy nở đầy cành đầy cây.

eastern redbuds
cây hoa tử điểm hồng trên sân của trung tâm thiên nhiên thuộc Union County
hai hàng redbuds trước một trạm nghỉ chân ở Maryland
hai hàng eastern redbuds (tử điểm hồng) trước trạm nghỉ chân ở Maryland
Hàng redbuds trước nhà đằng sau là nhà ông Jack
tử điểm hồng trên sân nhà tôi. Phía sau mấy cây hoa là căn nhà của ông Jack. Một căn nhà đẹp như những căn nhà trong truyện cổ tích
bãi cỏ trổ đầy hoa trắng
một bãi cỏ trổ đầy hoa trắng nhìn thấy trên đường hiking
hai con nai
hai con nai trong sân nhà hàng xóm buổi chiều Chủ Nhật (tôi) được mời ăn canh măng chua nấu với cá
hoa sơn thù du mọc hoang
hoa sơn thù du mọc hoang trên đường hiking
hoa tulips
bồn hoa tulips ở một nơi nào đó, có lẽ trước tòa nhà quốc hội ở Washington D. C.
mộc lan và đầu xuân
hoa đầu xuân và mộc lan ở sân nhà hàng xóm
một hoa tulip đỏ
hoa uất kim hương đỏ và sân cỏ mọc đầy cỏ dại
một hoa tulip vàng
hoa uất kim hương vàng, tôi hỏi chủ nhà tại sao trồng chỉ có một hoa đỏ một hoa vàng thì được bảo rằng trồng nhiều nhưng nai ăn hết. Nai thích loại hoa này và hoa daffodils (thủy tiên) ra bao nhiêu nai ăn bấy nhiêu
một vạt hoa vàng (bloodroots) trong rừng
một vạt hoa vàng (bloodroots) nhìn thấy trên đường đi trong rừng (hiking)
người đàn ông múa
Buổi chiều lỡ chuyến xe lửa nhìn thấy người đàn ông nghe nhạc trên loa phóng thanh trong nhà ga xe lửa nhún nhầy theo điệu nhạc một cách say mê không cần biết đến mọi người  chung quanh

Đọc gì xem gì những ngày gần đây

Nghe người ta nhắc đến Ray Bradbury. Thấy ở VN có người say mê dịch Ray Bradbury. Tôi đã có lần vác quyển 100 truyện đáng nhớ của ông về rồi đem trả lại. Tôi có đọc và xem phim 451 độ Farenheit. Tôi đọc hết Dandelion wine khi tôi viết một bài tản văn về mùa hè. Tôi thấy một vài truyện của ông mà tôi đọc qua hiền quá, thiếu chất ác của Raymond Carver, hay Yasunari Kawabata, hiền hơn truyện của Alice Munro nữa.

Tự hỏi mình vì sao thích đọc truyện có chất ác?

Gần đây tôi quay trở lại tìm hiểu thêm truyện của RB. Tôi đọc Fog Horn. Đọc một truyện ngắn được chọn trong tuyển tập sách giáo khoa văn chương mà ngay bây giờ tôi không nhớ tựa đề và quyển sách ấy tôi để trong sở. Về tình bạn của một người đàn bà chín mươi lăm tuổi và một người đàn ông ba mươi lăm tuổi. Người đọc nhận ra có một chút gì đó vương vấn tâm hồn hai người, sinh ra không cùng thời, không hẳn là tình yêu nhưng có thể trở thành tình yêu nếu hai người sinh ra cùng thời với nhau. Tôi cũng đọc thêm được một truyện ngắn (thật ra là lời mở đầu hay chương thứ nhất) quyển “The Illustrated Man.” Quyển này nói về một người đàn ông, trên thân hình ông là những bức họa, không chỉ là hình xăm (hay xâm) đơn giản. Đây là những bức họa có chiều sâu (3D) và khi màn đêm buông xuống, mỗi bức họa trên thân người ông đều chuyển động. Mỗi bức họa là một câu chuyện, được một bà phù thủy khắc lên da ông. Tôi dịch cái truyện ngắn của bà cụ 95 và chàng trai 35 được một hai trang rồi ngưng vì không thấy đủ hứng thú dịch tiếp. Nay mai gì sẽ đọc tiếp “The Illustrated Man.”

Tôi xem hết tập phim The Games of Thrones season 6. Chán nhưng vẫn tò mò muốn xem. Chán vì những giết chóc đẫm máu không cần thiết không thêm được gì cho cốt truyện hay nói sâu hơn về bản chất con người.

Rồi tôi xem một lô phim vớ vẩn để giết thì giờ trong khi không ngủ được như The Entrapment để ngắm vẻ đẹp của cô nàng vợ của Micheal Dukakis, Catherine gì đó tôi quên tên đóng với Sean Connery. Phim Meet the Parents do Ben Stiller đóng. Còn hai ba phim gì nữa mà tôi quên mất tên.

Có bạn nào có thể chỉ cho tôi một cuốn sách hay cuốn phim nào đó thật xuất sắc để đầu óc tôi thôi chạy lang bang quanh quẩn như thế này thì tôi cám ơn vô cùng.