Không có chuyện gì để viết

Tối qua tôi nằm xem cái DVD dạy chụp ảnh. Nhìn ra cửa sổ thấy mặt trăng vừa lên, màu vàng đậm thật to. Mấy nhánh cây khô áng trước mặt trăng, tự nhủ. xách máy ra, gắn tripod chụp ảnh mặt trăng chắc đẹp. Nghĩ vậy thôi nhưng lười, vì trời lạnh quá. Nhiều khi thấy vậy nhưng chụp không được như vậy.

Tôi đi ngủ sớm, tám giờ là lên giường. Khách đến hỏi bà đâu, ông nói bà đi ngủ sớm, khách cười. Chắc nói thầm ngủ như gà. Đi ngủ sớm nên dậy sớm. Tôi chỉ cần ngủ sáu tiếng là đủ rồi. Hai giờ khuya nằm trên giường, nghĩ đến mấy câu hát. “Có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi.” Câu hát thì như thế. Cố nhân thì không chỉ có một người, kẹt cái mình chỉ nghĩ đến những người không nghĩ đến mình, hoặc nếu có thì mình cũng chẳng biết. Và đời thì cũng chẳng buồn, tôi sống trong ngập tràn của hạnh phúc. Nếu thỉnh thoảng có buồn cũng chỉ vì nghĩ đến hai đứa con ở xa.

Nằm mãi đến ba hay bốn giờ. Hôm nay đã đổi giờ thành saving time nên dậy sớm một tiếng. Nhìn ra cửa sổ thấy ánh trăng, rừng khô tiền kiếp, đất đóng băng trắng, lại nghĩ một câu thơ khác. “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh.” Phải ở cái xứ giá băng này mới thấy cái lạnh của màu trăng khuya. Thức giấc giờ này người ta có thể nấu nước pha trà để có thể nhìn thấy vòng lửa màu xanh của lò ga và tiếng nước reo trong ấm phá tan sự im lặng, rồi người ta có thể uống trà giữa small hours 🙂

Lạnh nhưng không cô đơn vì giữa khuya vẫn có mấy con mèo. Loài mèo hoang chịu lạnh rất giỏi. Chưa sáng mà đã chờ ngoài cửa sổ để hát sonata. Lúc này con mèo ginger và Boyfriend đến mỗi ngày. Còn có một con mèo đen tuyền, và sáng nay nằm ngủ trong ổ của Boyfriend là một con mèo mướp.

Hôm nọ thấy có bạn tâm sự, yêu một thành phố nào đó rất nhiều nên xem thành phố ấy là của bạn ấy. Tôi như cái cây bị bứng mất rễ không mọc được ở chỗ khác. Tự hỏi mình sống bao lâu ở một thành phố, một quốc gia thì có thể thấy quốc gia ấy là của mình, thành phố ấy là của mình?

Chuyện thứ hai trên xe lửa

Hôm trước định kể hai chuyện, nhưng được một chuyện thì đã hết giờ phải chuẩn bị đi làm. Hôm nay viết tiếp. Chuyện thứ hai.

Ở một tuyến đường xe lửa khác. Thỉnh thoảng tôi lấy xe điện ngầm đi đến ngôi nhà thờ cổ, thường thường vào buổi trưa ngày thứ Tư, để nghe nhạc được trình diễn bằng đàn organ. Buổi trưa hôm ấy tôi ra hơi trễ, đến vừa kịp lúc leo lên toa cuối cùng.

Loại xe điện ngầm này, lúc vào nhà ga thì ở dưới lòng đất, nhưng đi ra khỏi phố thì chạy trên mặt đường. Tốc độ chậm hơn xe lửa. Loại xe này mới, êm hơn, sáng sủa sạch sẽ, có máy điều hòa không khí. Trạm tôi muốn đến nhà thờ là trạm thứ năm hay thứ sáu. Còn vài trạm nữa mới đến cuối đường nhưng tôi chưa đến cuối đường lần nào. Ra khỏi nhà ga, đi chừng một hay hai trạm thì đi ngang hai trường đại học nổi tiếng của thành phố tôi đang làm việc. Sinh viên của hai trường lên xe điện khá đông, qua khỏi trường đại học thì vắng hẳn. Bên cạnh đám sinh viên, hành khách xe lửa thường có đủ hạng người. Các bà cụ da đen, các cô gái người Hispanic, thỉnh thoảng có vài người ăn mặc đứng đắn sang trọng như làm việc cho văn phòng luật sư hay ngân hàng. Tuyến đường cũng đi ngang khu chung cư bình dân nên hành khách đi xe cũng có nhiều người nhìn khá bặm trợn dữ dằn. Trên xe thỉnh thoảng có cảnh sát đi theo. Có khi họ sóat vé xe điện. Loại xe điện này người ta đặt máy mua vé ở các trạm xe,hành khách tự giác mua vé. Nếu bị bắt đi xe không có vé, tiền phạt rất cao, hình như ba trăm Mỹ kim nếu bị bắt lần đầu, còn phạt gì tiếp theo hay không thì tôi không biết.

Buổi trưa, xe không đông lắm. Xe chạy lúc lắc một đỗi, có một chàng trai da trắng đứng lên nói to:

“Xin quí vị lắng nghe. Tôi không bán hàng cũng chẳng quyên tiền. Năm nay tôi được hai mươi sáu tuổi. Tôi muốn tìm người yêu. Tôi đã quá chán những mối tình trên facebook. Tôi cũng không muốn tìm người yêu ở các quán rượu. Tôi chán sống cô độc và muốn tìm một tình yêu lâu dài. Tôi có việc làm, lương hai ngàn Mỹ kim một tháng, không bệnh tật, không có tiền án. Tôi chán ăn McDonald. Tôi muốn có những bữa ăn gia đình, ấm cúng, và có người gối đầu trên cánh tay tôi hằng đêm. Tôi hứa sẽ đối xử trân trọng với người phụ nữ sẽ là vợ tôi. Xin các bà các cô, tuổi từ mười tám đến bốn mươi tám, nếu muốn cho tôi chút vinh dự xin hãy kín đáo xuống trạm xe điện với tôi.”

Anh chàng trông cũng sạch nước cản. Không đẹp trai lắm cũng chẳng đến nỗi xấu trai. Lương hai ngàn một tháng thì không nhiều nhưng cũng đủ sống tiện tặn.

Một người đàn ông da sậm, đầu hói, bụng phệ, nói giọng có accent của một người nước ngoài, giễu cợt:

“Mười tám đến bốn mươi tám? Nếu cậu muốn tôi cho không bà vợ của tôi. Đưa số điện thoại của cậu tôi sẽ chuyển lời đến vợ tôi.”

Cậu trai trả lời giọng hòa nhã:

“Tôi tìm vợ tìm người yêu, nhưng tôi không muốn vợ ông. Làm ơn nghe tôi dùm. Tôi không muốn gây sự hay sinh chuyện với ông. Nhưng vợ ông thì là vợ ông, ông làm gì có quyền mà đem cho bà vợ.”

Gã đàn ông nói gì đó tôi nghe không rõ. Chung quanh tôi mọi người nở nụ cười. Có người kín đáo liếc nhìn chàng trai trẻ. Xe điện ngừng. Gã đàn ông đòi cho vợ xuống xe. Chàng trai dợm xuống xe nhưng có vẻ như bất chợt đổi ý, ngồi lại trên xe điện. Toa xe điện tôi đang ngồi là toa cuối cùng. Toa đầu tiên có người lái xe. Mỗi toa cách biệt nhau nên những chuyện ì xèo ở toa cuối có lẽ người lái xe ở toa đầu tiên không nghe được và cũng không để ý.

Đến trạm nhà thờ, tôi xuống xe. Nghe có tiếng chân phía sau, tôi quay lại. Đó là chàng trai tìm vợ. Thấy tôi nhìn, chàng trai phân bua:

“Mama (Má). Mong bà tha lỗi cho tôi, nếu bà xuống xe vì đáp lời kêu gọi của tôi. Tôi là học sinh kịch nghệ. Lúc nãy tôi chỉ tập dượt một đoạn kịch ngắn do chính tôi viết để trình diễn.”

Trường kịch nghệ một tuyến đường xe điện ngầm ngược hướng với đường này. Tôi nhìn chàng trai, nóng người vì tức giận.

“Tại sao cậu lại cho rằng tôi đáp lại những lời rao mua bán hôn nhân kịch cợm của cậu. Tôi xuống trạm là vì đây là trạm tôi muốn xuống. Cậu thật là hỗn láo.”

Hắn cười, chắp tay vái dài, rồi nhảy lên một lần mấy bậc tam cấp, chạy mất.

Chuyện thứ nhất ở trên xe lửa

Chuyến xe lửa tôi đi hằng ngày có một người soát vé xe lửa vui tính. Ông luôn chào hỏi trò chuyện với mọi người, ngay cả toa xe tôi ngồi là toa đặc biệt, hành khách được yêu cầu giữ im lặng. Ông và mấy người hành khách nói đùa gì đó rồi cười to. Một người nói:

“Ông đã nói với cô ấy chưa?”

“Chưa. Nhưng tôi sẽ nói. Trước khi tôi về hưu.”

Ngồi gần tôi có một cô gái Á châu. Không thể nói là đẹp nhưng được cái dáng nhỏ nhắn và mái tóc đen thật dài. Cô ăn mặc rất đẹp thường mặc váy ngắn bó sát vào người. Khó đoán tuổi, nhìn cái dáng có thể tưởng cô chừng hai mươi hay hai mươi lăm. Nhìn làn da và nét mặt, có thể cô trạc tuổi ba mươi lăm, hay hơn. Ông thường hay hỏi chuyện cô gái và cô cũng trả lời thân thiện.

“Chào cô, ngày hôm nay trời đẹp quá!” Ông nói, mỉm cười. Tay ông mở cái nón kết, vuốt lại mái tóc bạc. Trông ông chừng hơn sáu mươi. Bụng hơi phệ.

“Vâng, trời đẹp quá, chỉ hơi lạnh.”

“Nếu tôi mời cô đi ăn sáng với tôi, cô nghĩ sao?”

“Ô, cám ơn ông. Tôi đã ăn sáng ở nhà!”

Hôm sau ông lập lại những câu hỏi và vẫn đùa vui duyên dáng. Từ ăn sáng ông chuyển sang ăn trưa. Cô gái vẫn mỉm cười từ chối. Liên tiếp mấy hôm như thế.

“Hôm nay thứ Sáu rồi. Tôi muốn mời cô đi ăn tối!”

Những vị khách quen ngẩng đầu lên nghe ngóng. Cô gái dường như chợt hiểu ra. Cô nói nhỏ, giọng đùa cợt.

“Tôi chỉ có thể đi ăn tối với ông nếu có sự giám sát của mẹ chồng tôi.”

“Thế cô đã có gia đình?”

“Vâng. Tôi có hai con.”

“Ô tiếc quá!”

“Ông có thể mời mẹ chồng tôi đi ăn, nếu ông muốn tôi sẽ giới thiệu cho hai người gặp nhau.”

“Xin cảm ơn cô, nhưng thôi!”

Ở cuối toa có tiếng hỏi xầm xì.

“Thế nào?”

“Cô ấy đã có gia đình, hai con.”

 

 

Xem phim A Single Man

Một phim tuyệt đẹp. Tôi thích đến độ tìm mượn quyển sách ở thư viện để đọc. Và viết mấy câu để ghi nhớ ở đây. Làm sao mà bạn có thể không thích phim nhỉ? Một phim hay có sức mạnh có thể thay đổi quan điểm của người xem, đi ngược lại định kiến của xã hội.

Bức họa của họa sĩ kiêm đạo diễn Akira Kurosawa

ran_storyboards
Bức họa của họa sĩ (trước khi là đạo diễn) Akira Kurosawa

Đăng ảnh trước viết bài sau. Ảnh lấy từ Wikipedia. Bức họa nhỏ xíu nhờ chị Huệ Gió O làm cho lớn lên. Đây là bức họa khi ông Kurosawa đã phác ra khi ông đạo diễn phim Ran, một phim nổi tiếng của ông đã khiến các nhà làm phim Tây phương xếp ông vào nhóm đạo diễn có khuynh hướng Shakespeare. Phim Ran phỏng theo vở kịch King Lear nhưng nếu người xem chưa hề biết đến King Lear sẽ không nhận ra nét Tây phương trong phim này vì ông đã dùng sự sáng tạo thay đổi nhân vật và Nhật Bản hóa phim. Để xây dựng quang cảnh cho phim ông đã phác họa tấm tranh này. Ban xây dựng dựa theo bức họa để xây thành triều đình cho vị vua già trở nên mất trí trong phim.

Thứ Bảy đầu tiên của tháng 3

Hôm nay nắng rực rỡ nhưng lại rất lạnh. Tôi dự định đi rừng nhưng lạnh quá, mà tôi lại bị cảm tuần vừa qua nên thôi. Tôi cũng thuộc loại khỏe mạnh, ít khi buồn vẩn vơ, nhưng thỉnh thoảng tôi lại rơi vào một cơn kiệt sức, rã rời chỉ muốn nằm luôn hai ba ngày. Tuy nhiên vẫn phải ngồi dậy để ăn. Tôi là người thích ăn, dù bệnh ăn vẫn thấy ngon miệng. Bởi vậy càng ngày càng béo ù ra.

Hôm qua tôi xem một lượt hai phim The Boxtrolls và Finding Dory. Xem The Boxtrolls vì có một bạn trẻ trên blog review và bài review thật là sâu sắc. Người review phim The Boxtrolls nhìn thấy một điều mà ngay cả tôi tuy già cũng không để ý: Cái sức mạnh của đám đông và những người khích động đám đông để đạt mục đích sai trái của cá nhân. Xem Finding Dory vì tôi thích phim Finding Nemo. Chắc bạn sẽ cười tôi lớn tuổi rồi mà xem phim trẻ con. Thật tình, người Mỹ họ làm phim trẻ con nhưng vẫn rủ rê được người lớn. Thật là một cách kinh doanh khôn ngoan, nếu họ làm phim chỉ để trẻ em xem thì người lớn sẽ không đưa trẻ em đến rạp mà xem; vì vậy phim trẻ em vẫn có những vấn đề cho người lớn suy nghĩ. Ở quan điểm người xem bình thường, xem để giải trí, cả hai phim đều xem được nhưng không thể gọi là phim hay đến mức tuyệt vời. The Boxtrolls có tính sáng tạo, người viết phim nghĩ ra những điều độc đáo như: những con quái thú sống trong hộp, và thằng bé được những con quái thú này nuôi lớn lên. Cái con người thực tế trong tôi moi móc ngay ở cái chỗ một thằng bé sống trong hang động biết nói tiếng người, ôi thôi đủ thứ không hiện thực, rồi tôi quay trở về ý nghĩ, chính những chi tiết hoang đường như thế mới làm ra phim. Suy nghĩ cứng ngắc như tôi làm sao mà sáng tác cho được. Finding Dory mang cho tôi cảm giác mỗi lần tôi xem sequel của một phim nổi tiếng, luôn có một chút thất vọng. Có lẽ những cái hay của một phim nổi tiếng sẽ không thể thực hiện lần thứ nhì. Tôi yêu màu sắc rực rỡ trong phim Finding Dory và những câu đối thoại trong phim bản khá thú vị. Cả hai phim đều thuộc loại hoang đường trong hiện thực. Nếu phải cho điểm tôi sẽ cho ba điểm trên năm, vui vẻ rộng rãi một chút sẽ cho ba điểm rưỡi.

Tối qua tôi vẫn còn dùng cái tablet. Sáng nay tự nhiên nó chết ngắc. Cắm điện bấm nút này nút kia cái màn ảnh vẫn đen thui. Tôi tức mình, còn mới keng mà đã hư. Tôi vào nét thấy người ta bảo reset bằng cách bấm nút power và volume cùng một lúc khoảng 15 giây. Tôi bấm một hồi nó reset nhưng vẫn không dùng được. Tôi sửa nó bằng cách những người không biết sử dụng máy, bấm lung tung lia chia loạn xạ, cuối cùng cái tablet trở lại bình thường. Tôi thở dài nhẹ nhõm. May quá.

Ông Tám nghe tôi than máy chết liền tặng tôi một cái tablet khác ông mới mua nhưng chưa dùng lần nào, nhỏ hơn gọn hơn. Dĩ nhiên là nhận ngay lập tức và cám ơn.

 

Lạc vào tranh van Gogh

Thỉnh thoảng mỗi khi có dịp tôi đi xem lại tranh của Vincent Willem van Gogh, người họa sĩ tài hoa tôi ngưỡng mộ đã lâu. Van Gogh có nhiều tranh lắm, dù chẳng mấy ai mua tranh của ông khi ông chưa qua đời. Chỉ riêng hoa hướng dương thôi ông vẽ đến mấy bức. Bình mười lăm hoa hướng dương. Bình mười ba hoa. Bình ba hoa. Thậm chí ngay cả hoa hướng dương khô cũng được mấy tấm. Không thể nào tưởng tượng được gần một trăm năm sau khi ông qua đời, tranh của ông, bức mười lăm hoa hướng dương trị giá mấy chục triệu Mỹ Kim.

Tôi đi ngang qua bức chân dung của ông, xem lại bức Starry Night, nấn ná ở bức Mười Lăm Hoa Hướng Dương, rồi đến bức tranh Đàn Quạ. Ngồi nghỉ một chút phía trước bức tranh Starry Night, tôi cúi xuống xách cái khung vải và giá vẽ chuẩn bị đi tiếp. Tôi đứng trước bức tranh cầu Langlois nơi có đám phụ nữ đang giặt giũ ở chân cầu. Bức tranh này hơi lạ tôi không nhớ là đã gặp lần nào. Tôi nhớ một bức tranh khác, cũng cái cầu Langlois này ở Arles. Đây là một cái cầu “toe-heel” hai nhịp có thể mở ra ở đoạn giữa, (giống như hai cái bàn chân mà những ngón chân ngước lên và gót chân là điểm tựa) cho tàu bè qua lại trên sông. Trên bức tranh ấy có bóng một người phụ nữ cầm dù đen mặc áo đen, hai bên bờ sông là cỏ vàng, bầu trời thì xanh và một phía cầu có hai cây bách mảnh mai và cao vút.

Van Gogh vẽ rất nhiều tranh ở Arles chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, chừng mười lăm tháng ông vẽ độ hai trăm bức tranh (paintings) và một trăm bức phác họa (drawings). Đây là một thành phố ở miền Đông Nam của Pháp trong vùng eo biển Provence và Côte d’Azur một nơi nhiều nắng và cuộc sống miền quê rất thanh bình.

Còn đang suy nghĩ về bức tranh cầu Langlois thì bỗng dưng trước mặt tôi là đám phụ nữ đang tắm giặt bên bờ sông cạnh cầu. Họ mặc áo và váy dài, kiểu quần áo của phụ nữ Âu châu vào những năm 1890.

Tôi chào người phụ nữ mặc áo màu cam, trùm khăn trắng, bằng tiếng Pháp.

“Chào Bà. Bà có biết ông van Gogh ở đâu không?”

Người phụ nữ nhanh nhẩu đáp lời.

“Nếu ông muốn gặp van Gogh thì ông ấy mới vừa băng ngang cầu và đi về hướng đồng lúa mì.”

Vừa nói nàng vừa chỉ tay. Tôi leo lên sườn cầu dốc thoai thoải đi về hướng ấy. Nàng nói vói theo.

“Thưa ông. Xin ông nhớ cẩn thận. Ông ấy mới vừa ra khỏi viện tâm thần.”

Nói xong, nàng và nhóm phụ nữ phá lên cười. Tiếng cười vang vọng cả một góc sông và đuổi theo tôi mãi sau khi tôi vượt qua nhịp nối ở giữa cầu.

Đây là một vùng quê rất đẹp. Đúng là nơi gợi cảm hứng cho họa sĩ. Hai bên đường toàn là hoa đủ thứ màu sắc, cây cỏ xanh tươi trong nắng chan hòa. Sau khi vượt qua những ngôi nhà sơn màu tươi tắn, trước mặt tôi là cánh đồng lúa mì vàng rực trong nắng mùa thu.

Ông ấy đang đứng giữa cánh đồng đã được gặt hái và thu dọn ngăn nắp. Tôi chạy vội đến, thở hào hễn. Van Gogh đang say mê vẽ, thật mạnh tay, vì cho dù vẫn còn ở xa tôi đã nghe tiếng bút cào sột soạt trên giấy vẽ.

Tôi hỏi bằng tiếng Pháp. Van Gogh cũng như hầu hết dân Hòa Lan, biết ít nhất là ba thứ ngôn ngữ. Pháp ngữ là tiếng ông thường dùng.

“Thưa, Ông là Vincent van Gogh, phải không?”

Kỳ lạ làm sao ông ta trả lời tôi bằng tiếng Anh, rất thì thầm, đến độ tôi chỉ đoán thôi chứ không nghe rõ.

“Yeah.”

Trông ông có vẻ gì không được yên ổn cho lắm. Ông đội mũ rơm, khuất dưới vành mũ là một miếng băng vải quấn ngang từ lỗ tai bên trái. Thọat trông nó có vẻ như là cái quai để giữ nón cho khỏi bị gió bay.

Ông ta nói như để trả lời với tôi, dù không nhìn tôi. Kỳ lạ làm sao, ông ta dùng Anh ngữ, mà tôi thì không rành lắm cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Và ông không giống như những bức tranh tự họa với nước da nhợt nhạt và màu tóc đỏ hoe của ông. Trái lại trông ông rất giống một nhà đạo diễn xấu trai của Mỹ. Martin Scorsese.

“Anh nghĩ thế nào? Theo tôi, phong cảnh này đẹp đến độ không thể tưởng tượng được đây là cảnh thật.”

Quả đúng như ông nói. Cảnh trí chung quanh tôi thật đẹp. Nắng vàng ươm, đồng lúa mì, rặng bách, mặt trời màu đồng, tất cả tạo thành một bức tranh có màu ấm áp. Van Gogh nói tiếp:

“Hơ! Nhìn ngắm những cảnh trí giống như là một bức tranh thì không thể làm thành bức tranh. Nếu anh chịu khó ngắm nhìn cho thật kỹ, anh sẽ thấy. Tất cả mọi thứ trong thiên nhiên đều có vẻ đẹp riêng của chúng. Khi tôi bắt gặp vẻ đẹp tự nhiên của thiên nhiên, tôi chỉ có thể thả hồn của tôi vào trong ấy. Và khi thiên nhiên tràn ngập trong tôi, thì như là một giấc mơ vậy, chúng tự vẽ thành bức tranh. Thật là như thế đó. Tôi đắm chìm trong thiên nhiên. Tôi nhai nuốt toàn thể thiên nhiên một cách ngấu nghiến. Và sau khi tôi nhai nuốt thiên nhiên xong thì bức tranh trước mặt tôi được hoàn tất. Thật khó mà kềm giữ cảm giác ấy trong lòng.

Vangogh nói hăng say, mắt ông đầy vẻ mơ màng. Tôi rụt rè hỏi:

Thế thì ông làm gì?”

“Hả? Thì tôi làm việc, hết sức mình, như là một tên nô lệ. Tôi tự lèo lái tôi như thể tôi là một bộ máy xe lửa.”

Tôi như đang trôi thênh thang trong một cơn mơ. Tôi nghe tiếng còi xe lửa, nhịp máy chạy rập rềnh. Và giữa tiếng máy xe lửa là một bản nhạc dương cầm thật du dương, ngọt ngào. Bản nhạc thật quen thuộc, dường như tôi đã nghe rất nhiều lần, mỗi lần nghe là tôi chìm dần vào giấc ngủ.

Van Gogh thở dài, nhìn lên mặt trời như cố vẽ lại ánh sáng đang chan hòa trên màu vàng của đồng lúa mì. Ông cất bản vẽ, nói lầm bầm.

“Tôi chậm chạp quá, trễ rồi. Tôi tự hoang phí sức mình. Tôi không còn thì giờ để có thể phí phạm. Tôi cần phải vẽ.”

Tôi ái ngại hỏi van Gogh.

“Ông có khỏe không?”

Van Gogh nhìn tôi, có vẻ bực dọc. Tay chỉ vào lỗ tai trái, nơi có mảnh băng.

“Nếu ông muốn biết thì tôi kể cho nghe. Cái này, hôm qua, khi tôi tự vẽ chân dung, cái lỗ tai dường như ở không đúng chỗ, có cái gì đó không hợp với khuôn mặt của tôi nên tôi cắt phăng và ném nó đi.”

Tôi giật mình. Tôi mang máng nhớ báo chí đã có lần đồn thổi về việc van Gogh tự cắt lỗ tai. Hình như ông cãi nhau với một họa sĩ khác, bạn chí thân của ông. Họa sĩ Gaugin. Van Gogh mến ông họa sĩ này lắm, đến độ vẽ cả một bức tranh về cái ghế mà Gaugin đã ngồi. Thảo nào người ta thường nói khi yêu mến người nào người ta tôn thờ cả dấu chân người ấy đi qua. Người khác lại bảo rằng khi ông cắt lỗ tai của mình, ông bọc nó lại và mang đến đưa cho một nàng kỹ nữ. Khi nhìn thấy cái lỗ tai đẫm máu của ông, nàng sợ quá ngã lăn ra bất tỉnh. Sau này người ta còn nói rằng, thật ra không phải ông tự cắt lỗ tai mà là do Gaugin đã dùng gươm đánh đứt lỗ tai của ông. Tiếng đồn rằng van Gogh yêu Gaugin nên đâm ra ghen tuông giận hờn. Nhất là mỗi khi ông say rượu lại càng khó chịu. Gaugin muốn bỏ về Paris nên hai người cãi nhau đến độ thách nhau đấu gươm tay đôi. Gaugin dĩ nhiên không muốn làm tổn thương van Gogh nhưng đao kiếm vốn vô tình, Gaugin lỡ tay làm đứt lỗ tai của Vangogh. Vẫn còn yêu bạn nên van Gogh dấu chuyện này còn Gaugin thì sợ liên lụy đến pháp luật nên hai người thỏa thuận với nhau không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.

Van Gogh có vẻ mơ màng như chìm đắm trong cõi riêng của ông nhưng giọng nói của ông không mấy thân thiện. Người đời thường kể rằng bản tính của ông bất thường. Khi vui ông có thể là bạn tốt, nhưng thường xuyên hay gắt gỏng, quạu cọ, hay cãi cọ với mọi người.

“Mặt trời! Ánh sáng mặt trời thường hối thúc tôi phải vẽ. Tôi không thể đứng đây lãng phí thời gian trò chuyện với anh.”

Tôi ngỡ ngàng nhìn mặt trời. Tôi nghe từ xa xăm tiếng xe lửa hú còi, và tiếng dương cầm rộn rã. Thoắt một cái Vangogh, thần tượng của tôi biến mất. Tôi phải đi tìm ông ta.

Tôi lạc bước trên đường phố hoang vắng và cảnh vật chung quanh tôi không còn là cảnh thật nữa. Tôi đi trong những bức tranh vẽ. Chỉ cần tôi bay lên trên cao nhìn xuống là sẽ nhận ra hoàn toàn là những bức tranh của van Gogh. Tôi đi giữa hàng cây khô dưới ánh mặt trời được phác họa bằng mực đen nâu. Tôi đi giữa đường St. Maries bằng mực nâu đen đáng lẽ phải là bức tranh đầy màu sắc như đã được triển lãm trong viện bảo tàng. Tôi len lỏi giữa hàng cây cổ thụ với màu lá thu ở trên đường Mender, một bức tranh van Gogh vẽ vào cuối thập niên 1880. Tôi lạc vào vườn nho được vẽ bằng mực màu xanh. Trong bức tranh có mấy người phụ nữ làm vườn, nhưng lúc tôi đi tìm van Gogh thì chẳng thấy mấy người phụ nữ của vườn nho. Tôi đi từ cảnh trí này qua cảnh trí khác, đây là bức tranh đường vào làng của Arles đầy màu sắc. Đây là ngôi nhà và vườn hoa. Đây là vườn hoa gần bệnh viện tâm thần. Đây là đường vào làng với cây bách thật to màu xanh dương đậm như trong bức tranh và hai bên đường là cỏ vàng và lúa mì vàng. Tiếng dương cầm như thúc giục tôi chạy nhanh lên để bắt kịp van Gogh. Linh tính tôi cho biết ông sẽ đi đến cánh đồng lúa mì vàng nơi đó có đàn quạ đen. Tôi hầu như bắt kịp ông khi ông đứng trên đỉnh đồi chung quanh là đồng lúa mì vàng. Tiếng quạ kêu quang quác và một đàn quạ đen bay túa lên trời.

Tiếng dương cầm vang vang cùng hòa với tiếng còi xe lửa hú. Tôi tỉnh cơn mộng nhận ra tôi đang đứng trước bức tranh đàn quạ.

Bây giờ thì tôi nhớ ra rồi. Bản dương cầm tôi nghe trong giấc mơ đi tìm và gặp van Gogh là bản Prelude in D-flat Major có tựa đề Raindrop (Giọt Mưa) của Chopin.

Ngày xưa còn trẻ, tôi có thời mơ làm họa sĩ. Tôi rất thích tranh van Gogh, nhưng chính vị họa sĩ có bệnh tâm thần này đã thuyết phục tôi nên bỏ nghề họa sĩ. Tôi nhận ra rằng tôi không có một nét vẽ đặc biệt của riêng tôi. Cái gì làm nên van Gogh? Làm thế nào để người xem nhìn tranh van Gogh mà biết là tranh của van Gogh? Có phải nét vẽ táo bạo, nét màu rực rỡ, một nét vẽ cứng như một nhát dao, đậm và hằn rõ nét như vẽ bằng một nhánh cây, chứ không phải vẽ bằng cọ?

Viết lại một trong những giấc mơ của Akira Kurosawa. “Tôi” là tên nhân vật trong hai đoạn phim ngắn “Crows” và “Vangogh” của Akira Kurosawa. Khi viết lại đoạn phim này tôi nhận ra, có những điều phim có thể nói được nhưng không thể viết ra bằng lời thành văn xuôi. Muốn hiểu tranh Vangogh thì phải xem tranh Vangogh. Tôi copy một vài đoạn trên màn ảnh lúc nhân vật tôi đi tìm Vangogh và so sánh với một vài tấm tranh của Vangogh trong quyển “Vangogh – A Retrospective”do Susan Alyson Stein tuyển chọn và biên tập.