Đọc là duyên

Trái ngược với nhà văn, nhiều người than phiền bị bế tắc. Vì không là nhà văn nên tôi không bao giờ có cảm giác viết … không ra. Khi tôi im lặng, không viết gì, chỉ đăng hình chụp đi chơi vớ vẩn, hay những cái gọi là “filler” cho đỡ trống trải, đó là vì tôi bận quá. Tôi bận nhiều thứ, trong đó có cái gọi là bận đọc. Nhiều khi tôi chỉ muốn đọc chứ không muốn viết gì cả. Tôi như một cô bé học trò, đến cuối mùa phải thi, chợt nhận ra có nhiều bài vở quá, nếu không học sẽ không được lên lớp. Cũng có khi vì tôi có quá nhiều đề tài muốn viết mà không đủ thì giờ dành riêng cho một chủ đề nào để viết cho đàng hoàng tươm tất.

Tôi đọc vì tò mò. Thí dụ như tôi xem phim Trumbo, về một nhà viết phim ảnh tài ba, phim của ông được nhiều giải thưởng, trong đó có Roman Holidays (người nào ngày xưa đọc Tuổi Ngọc ắt phải biết truyện này, được dịch ra và đăng từng kỳ, ai dịch thì tôi không nhớ), tôi tự hỏi vì sao một số các nhà văn của Hoa Kỳ, sống trong chế độ tư bản, lại tham gia đảng Cộng Sản. Chỉ từ cái thắc mắc này tôi đọc vài cuốn sách loại biên khảo. Rồi lan man qua vài câu hỏi khác tôi đọc một số chủ đề khác. Đọc xong thấy không có gì đáng viết ra vì vẫn còn thắc mắc một số điều nho nhỏ khác. Sau đó, quên gần hết những điều mình đã đọc. Bây giờ ngồi đây chẳng còn nhớ mình đã đọc gì, đã thắc mắc những gì.

Càng ngày càng nhận thấy, ngay cả chuyện đọc cũng là duyên. Đăng cái ảnh cánh cổng đỏ torii xong, lại tình cờ nhặt được một quyển sách nhỏ trong thư viện bỏ túi. Quyển sách nói về tôn giáo Shinto (Thần đạo) của Ian Reader. Mở ngay trang đầu tiên có mục lục tôi thấy trang 16 có torii – The Shinto Gateway nên mang về đọc tiếp. Nhờ quyển sách bé này tôi thấy thêm vài chi tiết về văn hóa Nhật, mà lúc trước tuy nhìn nhưng không thấy.

Torii thường được sơn màu đỏ sậm (vermillion) nhưng cũng có khi sơn đen, thường được làm bằng gỗ, nhưng cũng có khi làm bằng xi măng (concrete). Torii là biểu tượng phổ thông nhất và được chụp ảnh nhiều nhất. Ở Nhật Bản có lẽ có cả mấy chục ngàn cái torii, xuất hiện khắp nơi. Ai đến thăm Nhật Bản có lẽ đều nghe danh nếu không tận mắt nhìn thấy torii của đền thờ Itsukushima, mọc lên từ giữa biển duyên dáng chào mừng du khách.

Như đã nói ở phần trước, cổng đỏ torii là biểu tượng của Shinto, cứ thấy cổng đỏ là biết gần đó có ngôi đền thờ Thần Đạo. Torii cũng nói lên mối quan hệ chặt chẽ của Thần Đạo với nền văn hóa nông nghiệp Nhật Bản. Tuy nhiên torii không chỉ xuất hiện ở thôn quê, mà hầu hết ở tất cả mọi nơi, từ thâm sơn cùng cốc đến biển cả đến núi non, cả những nơi hoang phế, và ngay cả trong trung tâm thành phố.  Torii được xây trên nóc của tòa nhà tổng hành dinh của công ty mỹ phẩm Shiseido, Ganza – trung tâm của Tokyo.

This slideshow requires JavaScript.

Cánh cổng màu đỏ

Thỉnh thoảng xem phim Nhật tôi thường thấy có cái cổng màu đỏ. Tò mò không biết nó có ý nghĩa gì, tìm kiếm tôi biết đây là torii có lẽ đọc theo Hán Việt là điểu ngự hay điểu cư, có nghĩa là nơi cho chim đậu.

Torii thường thấy ở gần đền Thần Đạo (Shinto) hay đầu làng. Biết vườn Nhật Bản ở Brooklyn có torii nên tôi sang xem. Được biết Brooklyn Japanese Garden là một trong 25 vườn Nhật Bản đẹp hàng đầu nước Mỹ.

Từ nhà tôi sang Brooklyn khá gần chỉ có ba mươi lăm dặm (35 miles) mà bận đi mất hai giờ đồng hồ (đi lúc 9 giờ rưỡi) bận về mất ba tiếng (kẹt xe ở New York nhất là ở Holland Tunnel).

Tết và tuyết

mênh mông là ơiThế nào cũng có người thắc mắc, người Việt ở hải ngoại ăn Tết như thế nào.

Ở Mỹ có hai Tết, dương lịch và âm lịch. Mùa xuân có hai lần, Tết và mùa khi hoa anh đào nở. Ăn thì bắt đầu từ lễ Halloween, đến Thanksgiving, đến Giáng sinh, đến Tết Tây, đến Tết Ta. Sau đó là tập thể dục mãi đến tháng Bảy tháng Tám để đi biển dám mặc đồ tắm.

Tết âm lịch thường rơi vào tháng Hai là tháng cao điểm của những cơn bão tuyết. Ở Mỹ từ năm 1981, tôi không nhớ những lần ăn Tết, mà chỉ nhớ những cơn bão tuyết.

Không còn nhớ năm nào, tôi ở Philadelphia có cơn bão tuyết rất lớn. Thời ấy còn ở nhà thuê. Căn apartment ấy có ba tầng, tầng trệt, tầng lầu thứ nhất và tầng lầu thứ hai. Các tay chủ nhà cho thuê luôn luôn là các tay trọc phú, làm giàu bằng mọi cách gian ác. Thường thường, khi trời có bão tuyết sau đó nhiệt độ xuống thật lạnh, đặc biệt là cuối tuần và có cộng thêm ngày lễ, các lão chủ nhà thường cúp sưởi của người thuê nhà. Viện cớ hết dầu đốt lò nước nóng, và phải chờ đến sau lễ mới có xe chở dầu. Viện cớ máy hư, phải sửa và chưa xong. Nhiều lý do lắm. Lạnh đến độ cửa sổ đóng băng. Ở trong nhà chúng tôi thở ra khói. Có điện, nên hễ ai có tiền, để trả tiền điện thêm cộng vào tiền điện nước hằng tháng, và phải mua cái sưởi điện, thì có thể sưởi ấm những lúc ấy. Tôi tiếc tiền nên ráng chịu lạnh. Người thuê nhà ở tầng thứ hai là một người đàn bà có con nhỏ, người Mỹ. Cô nàng gọi chủ nhà mắng trơ trất, còn tôi gọi năn nỉ mở sưởi cho chúng tôi bằng giọng nói ngập ngừng phát âm sai trớt quớt. Bây giờ nghĩ lại, anh chàng sinh viên của Dostoevsky ghét chủ nhà đến độ có thể giết người thì cũng phải. Chúng tôi đi chợ bằng xe buýt. Bão tuyết nhiều xe búyt ngưng. Chợ Ý bán lộ thiên, rau cải thức ăn giá rẻ hơn siêu thị bị bão tuyết cũng tạm ngưng. Tủ lạnh nhà tôi chẳng còn gì để ăn. Tết năm đó gần như phải nhịn đói.

Sau đó tôi dọn sang New Jersey, có một năm vào dịp Tết có bão tuyết to mà tôi không biết. Đâu có theo dõi tivi đài khí tượng, đâu biết nghe tin tức gì đâu mà biết. Sáng sớm vẫn đi học như thường lệ nhưng đến nơi thì trường đóng cửa. Tôi ngồi ở cafeteria học bài đến trưa tuyết đổ nhiều quá nên đón xe buýt đi về chung cư. Lúc đó tôi ở khu housing project, đón xe buýt số 1 từ trạm xe buýt gần trường. Xe buýt số 1 chạy ba tuyến đường. Một tuyến chạy thẳng từ gần trường tôi (Newark) về chung cư ở Ivy Hill. Một tuyến chạy từ Newark đến trạm A (nửa chặng đường và thả khách xuống). Một tuyến nữa chạy Newark, đến trạm A đón thêm khách, mang về Ivy Hill. Bão tuyết lớn quá, xe chết máy đầy đường, kể cả xe buýt cũng bị chết máy. Tôi chờ mấy tiếng đồng hồ không lên được xe buýt vì xe nào cũng đông nghẹt. tôi lạnh cóng giữa trời tuyết vì không mặc áo khoác dài, chỉ có ấm nửa người, chờ mãi lên được xe buýt thì nhằm chuyến chỉ chạy đến trạm A. Từ trạm A tôi phải chờ thêm mấy tiếng đồng hồ mới lên được xe buýt về Ivy Hill. Về đến nhà thì đã sáu giờ chiều.

Lúc còn đi học, nhóm sinh viên Việt có tổ chức Tết, trường cho một số tiền, chúng tôi hùn thêm tiền làm chả giò, tổ chức dạ hội dạ vũ. Sau đó đi làm, tôi không dùng âm lịch (và vì không có lịch âm lịch) nên cũng chẳng biết khi nào là Tết. Tết chỉ là một ngày bình thường. Thoáng nhớ đến khi thấy người ta bán bánh mức và bao lì xì đỏ.

Khoảng mười năm sau này, khi gia đình bên chồng sang Mỹ ở đông, có người nhớ tập tục tổ chức cúng ông bà, đưa ông táo, gặp nhau ăn tiệc chứ riêng tôi cũng thấy già thấm mệt, sợ phải nấu nướng. Trong gia đình bên chồng, có nhà nấu bánh tét bánh chưng, cho một ít, thêm dưa món chứ tôi cũng ít khi mua bánh chưng ở tiệm. Một phần vì tôi không ăn được nếp. Ăn vào không tiêu.

Tết cũng như Giáng sinh làm tôi cảm thấy stressful, mệt mỏi, chỉ mong cho chóng qua để tôi trở lại với cuộc sống ngày thường. Và năm nay, cũng như bao năm trước, bão tuyết đến, tuyết tan, ngày mai ngày kia lại có bão tuyết. Một lần Tết qua, ngày mỗi già, tôi còn 940 ngày là có thể được chính thức về hưu (non). Nhớ một câu mà tôi tâm đắc khi đọc quyển Tuesday with Morris. Nếu mà tập tục văn hóa làm khổ bạn thì bạn hãy quên cái tập tục văn hóa ấy đi. Tôi muốn quên Tết nhưng chung quanh ai cũng vui mừng đón Tết làm tôi cảm thấy mình phản văn hóa và mất gốc quá. Vui Tết không được, không vui Tết cũng không được. Tôi là người trôi lơ lửng giữa hai dòng văn hóa chẳng bám rễ vào đâu.

Lại nghĩ lan man một chút, những người Việt sống chui (ở Anh chẳng hạn) họ đón Tết như thế nào. Hay là “tôi có chờ đâu, có đợi đâu. Mang chi xuân lại, chỉ thêm sầu…”

Halloween

Ở một xứ sở giàu có và thanh bình, người ta có đủ thứ lễ hội để ăn mừng vui chơi. Halloween, không chỉ là ngày của trẻ em đi “trick or treat” xin kẹo của láng giềng, mà còn là ngày hội khiêu vũ hóa trang, tiệc tùng của người lớn. Tuần trước đi hiking ngang qua Ghost Village đã thấy người ta chuẩn bị tiệc. Hôm qua thấy ở công viên gần chỗ làm người ta chuẩn bị diễn hành chung quanh thành phố để chào đón Halloween. Có mấy tấm ảnh đăng lên mời các bạn xem.

Jazz in the garden 4

Sở dĩ có mấy cái post jazz là gì, rồi jazz trong phim ảnh và văn học là tại vì tôi đi xem Jazz in the garden hằng tuần. Đây là tuần thứ tư, mới xem hồi thứ Năm vừa qua. Tôi đến trễ, không còn chỗ trong bóng mát. Thấy có chỗ trống ngồi vào thì bà cụ bên cạnh nói, người ta bỏ ghế này vì bị cây cột chống lều, và cái máy khuếch đại âm thanh án ngữ. Bạn đọc tha thứ cho những tấm ảnh này. Tôi nhận ra cái shyness của tôi làm tôi trở nên què quặt nhiều mặt. Tôi không dám đứng ra giữa sân để chụp ảnh như những người chụp ảnh. Ngay cả đứng lên để chụp ảnh tại chỗ tôi cũng thấy ngượng ngùng, có cảm tưởng người ta nhìn mình, nhìn cái búi tóc bạc giấu sau cái mũ, nhìn cái lưng đã bắt đầu có dáng hơi còng.
toàn ban nhạc Cocomama
Đây là ban nhạc Cocomama. Ban nhạc có chín người, nhưng người chơi đàn bass bị che khuất sau các nhạc sĩ, ca sĩ, và cái loa. Tôi nghe tiếng bass đệm và đôi khi độc tấu nhưng không thấy người, ban đầu ngỡ là người chơi piano đệm theo bắt chước tiếng bass. (Tại không rành âm nhạc nên muốn tưởng sao thì tưởng) 🙂
quả bầu làm nhạc cụ
Ban nhạc này được giới thiệu là All female Latin Jazz group. Nửa phần đầu họ trình diễn nhạc Cuba. Sau đó họ hát nhạc của Peru và có bài nhạc tiếng Anh. Có lẽ đây là bản nhạc rất phổ biến nên tôi nghe khán giả phía sau lưng tôi hát theo. Vì là nhạc Cuba và châu Mỹ Latin nên họ có vài loại trống. Ảnh này là quả bầu được dùng làm nhạc cụ. Sau lưng người ca sĩ này là một cặp trống có chiều cao đến bụng. Tôi nghĩ thiếu tiếng trống chắc khó truyền đạt âm nhạc châu Mỹ Latin. Tôi rất yêu tiếng trống trong âm nhạc, cố gắng phân biệt tiếng trống của các quốc gia Ả Rập, nghe thì có thể phân biệt nhưng diễn tả bằng ngôn ngữ thì bất khả.
drummer and percussionist
Đây là hai nữ nghệ sĩ đánh trống. Ban nhạc toàn nữ này mang cho tôi cảm giác rất đặc biệt. Khâm phục họ và họ đáng tự hào. Và nhận ra thế giới ngoại quốc có dành chỗ cho nữ giới. Không được rộng rãi như chỗ của nam giới, nhưng họ cũng tạo ra một chỗ đứng cho họ. Cô gái đánh trống này thật là xinh đẹp, và tôi yêu cái mũ đàn ông của cô.
volunteer dancers
Hôm ấy là một ngày mùa hè đẹp tuyệt vời. Không nóng lắm và có gió hiu hiu. Trời xanh với những cụm mây trắng lười biếng bay. Tôi không muốn trở về chỗ làm. Ngồi nghe nhạc và nghĩ đến những câu thơ.

Dẫu rằng người có phụ tôi.
Thì mây vẫn trắng thì trời vẫn xanh.

Được hai câu thì bí rồi nên tiếp tục nghe nhạc. Tôi yêu nhạc vùng Caribbean và tiếng trống kể từ khi tôi nghe bài Kiss The Girl trong The Little Mermaid. Tiếng trống rộn ràng, rạo rực. Những nhà nghệ sĩ của ban nhạc Cocomama, chơi những bản nhạc nhanh vui theo điệu Salsa nên nhiều người ngứa ngáy đôi chân. Khi họ được khuyến khích ra sân khiêu vũ thì họ ra ngay. Đây là những người khiêu vũ với những bước rất đẹp mắt. Cách họ uốn éo di chuyển chứng tỏ có một thời họ làm chủ sàn nhảy nào đó. Nhìn cái lưng của người phụ nữ áo đen và mái tóc cắt ngắn rất khéo tôi có cảm tưởng nàng là người Á châu. Nhảy đẹp lắm.
một cặp khiêu vũ
Đứng chật sân nhưng chỉ toàn là phụ nữ. Khi ông này lên khiêu vũ với bà này, khán giả vỗ tay um sùm. Sau lưng tôi là một ông cụ. ông hát theo ca sĩ và tiếng đàn, giọng trầm hơi khàn, mỗi lần nghe một đoạn nhạc hay ông kêu lên Ô lê, Ô lê, Ô lê, đôi khi ông “hum” (âm thanh ngậm lại trên môi không phát ra thành tiếng) ông sành âm nhạc lắm a.

Tôi hoàn toàn không biết nhạc lẫn lời. Chỉ ngồi đó nghe âm thanh và giai điệu. Khi họ hát những bản nhạc jazz chậm, tôi đoán lời hát chắc phải não nuột lắm, nhưng âm thanh điệu nhạc vẫn dồn dập rộn rã. Nhạc vẫn vui dù lời hát có buồn. Với âm nhạc, một buổi trưa hè như thế này, dù có bị tình phụ thì trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, mình vẫn sống nhăn. Tình phụ, đó là sự tưởng tượng của một người ôm mộng làm dzăng sĩ. Chứ tình phụ xảy ra hồi mấy chục năm về trước kia.

Jazz trong phim ảnh 2

Hôm qua tôi thắc mắc không biết phim The Great Gatsby, version 1974, hai diễn viên chính là Redford và Farrow, có phản ánh đúng với nhạc jazz vào thập niên 1920 hay không. Thắc mắc thì tự đi tìm câu trả lời.

Những năm 1920, Hoa Kỳ đang hồi phục sau thế chiến thứ nhất chấm dứt thời kỳ đại khủng hoảng kinh tế (Great Depression). Đó là thời kỳ jazz age, nhạc jazz đang hồi hưng thịnh, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở Anh và Pháp. Không những jazz mà văn học thời ấy cũng huy hoàng. Cuộc sống ở Hoa Kỳ đắt đỏ hơn ở Pháp. Người da đen ở Hoa Kỳ thời bấy giờ vẫn còn bị kỳ thị chủng tộc nên các hoạt động nghệ thuật vẫn còn gò bó với các nghệ sĩ trình diễn. Rất nhiều văn nghệ sĩ Hoa Kỳ sang sống ở Pháp như Ernest Hemingway, Francis Scott Fitzgerald, Gertrude Stein, Josephine Baker, … Josephine Baker là nữ nghệ sĩ trình diễn, bộ môn hát và khiêu vũ. Cảm thấy bị gò bó qua phong cách trình diễn, và không được quí trọng vì bà là người da đen, bà sang Paris sống. Nơi đây tên tuổi của bà trở nên lẫy lừng khắp thế giới. Cole Porter là nhạc sĩ jazz, đồng tính luyến ái cũng sống ở Paris. Có lẽ còn nhiều nhạc sĩ jazz nữa nhưng tôi không biết. Tất cả những tên của các văn nghệ sĩ tôi vừa nhắc qua đều được nhắc đến trong phim Midnight in Paris.

Chiều qua tôi đến thư viện mượn phim The Great Gatsby năm 1974. Thêm một chút thất vọng vì phim này bị chê là không tôn trọng đúng mức tinh thần nhạc jazz trong thời đại vàng của nhạc này. Nếu tôi có thất vọng vì không tìm thấy nhạc jazz của thập niên 20 trong hai phim The Great Gatsby thì tôi được đền bù trong phim Midnight in Paris. Toàn cái soundtrack của Midnight in Paris là các nhạc phẩm được trình bày bởi các nhạc sĩ jazz (người da đen) nổi tiếng như Duke Ellington, Billy Strayhorn, … Phim này làm tôi hầu như có cảm tình với Woody Allen trở lại, một phần nào. Phim của Allen có nét lãng mạn, nhưng tôi không ưa cách đối thoại “lắp bắp” của ông.

Có hai phim tôi đã xem, đưa cuộc đời của các nhạc sĩ jazz vào phim, “Young Man With A Horn” và “Paris Blues.” Cả hai phim đều nói về nhạc sĩ Jazz người da trắng, nhưng phim Paris Blues có Sidney Poiter là nhạc sĩ người da đen. Young Man With A Horn do Kirk Douglas đóng vai chính, phim dựa trên cuộc đời của Bix Beiderbecke. Phim ra đời năm 1950 có lẽ vào thời kỳ ấy người ta không dãm nghĩ đến việc làm phim về nhạc sĩ da đen. Mãi đến năm 1961 khi phim Paris Blues ra đời chúng ta mới thấy sự xuất hiện của diễn viên Sidney Poiter đồng thủ vai chính với Paul Newman. Trong phim Paris Blues tôi thấy có Louis Amstrong và một vài nhạc sĩ người da đen khác. Sound track của Paris Blues được Duke Ellington đảm nhiệm kiêm trình tấu.

Tạm ngừng để đi làm.

Jazz trong phim ảnh 1

Hôm qua tuyên bố sẽ viết về Jazz trong văn học và phim ảnh. Sáng nay tự hỏi mình biết gì về chủ đề này mà tuyên bố như vậy. O Gió chắc biết tật của tôi. Để bắt buộc mình tập trung về một chủ đề nào đó, tôi thường tuyên bố trước, rồi bắt mình phải giữ lời hứa. Cũng có một đôi lần thất hứa, nhưng thường hễ đã hứa thì tôi cố gắng làm với tất cả những giới hạn và khiếm khuyết của mình.

Hôm qua tôi nói nhạc Jazz phát xuất từ người da đen nghèo, nhạc của họ buồn. Sáng nay nói thêm. Nhạc jazz ban đầu phát xuất từ miền Bắc châu Phi Congo và Savannah khu vực lòng chảo của rừng nhiệt đới. Nhạc cụ là những khúc gỗ được biến thành trống. Người Bắc Phi đã từng xâm lấn Spain và từ đó mang tiếng kèn (rồi sau nữa là guitar, dương cầm và vĩ cầm) vào nhạc jazz. Nhạc jazz ở Hoa Kỳ (nhạc jazz có khắp nơi trên thế giới, đặc biệt lớn mạnh ở Pháp) biến chuyển theo thời gian, từ ban nhạc nhà nghèo với vài ba cây kèn và guitar, đến giàn nhạc đại hòa tấu, vài chục cây kèn, dương cầm vĩ cầm, có nhạc sĩ biểu diễn solo, vào những đại hí viện. Tôi không muốn gọi đây là nhạc sang trọng nhưng rõ ràng là muốn thưởng thức thì phải có tiền nhiều. Tôi vẫn tin (đầy vẻ ngây thơ ngớ ngẩn) là, người biểu diễn, người nghe, và nơi biểu diễn, có thể nghèo nàn hay giàu có nhưng tự âm nhạc thì không dành riêng cho ai cả. Âm nhạc giàu có ở âm thanh và giai điệu và miễn là đừng điếc thì ai cũng có thể nghe và thưởng thức nó với chính cảm quan của mình. (Ngay cả điếc như Beethoven mà còn viết được bản dương cầm bất hủ For Elise). Nhạc jazz có khi chậm buồn có khi nhanh vui (swing) có khi ồn ào cuồng loạn (rock’ n ‘ roll). Mình thích hay không thích một giai điệu có thể bắt nguồn từ tâm thức, kinh nghiệm, hay thói quen, nhiều hơn là vì kinh tế.

Khi nghĩ đến jazz trong phim ảnh, tôi không nhớ ra phim nào ngay lập tức, ngoại trừ The Great Gatsby. F. Scott Fitzgerald là nhà văn của thời kỳ nhạc jazz hưng thịnh, do đó có lẽ nhạc jazz sẽ xuất hiện tràn đầy trong phim. Tôi xem lại phim này, mới làm năm 2013 của đạo diễn Baz Luhrmann. Thú thật khi xem phim này lần đầu tôi đã có chút thất vọng. Tôi thích cái hào nhoáng giàu có, thích màu sắc của thời trang, thích cái mới mẻ của phim nhưng tôi cũng chính những khía cạnh này mà tôi không thích phim The Great Gatsby của Luhrmann. Phải công nhận, khó mà làm vừa lòng khán giả xem phim này, bởi vì họ đã được xem quá nhiều phim bản (1926, 1949, 1955, 1974, 1999 opera, 2000 phim truyền hình) cũng như đã đọc quyển tiểu thuyết này từ năm xửa năm xưa. Xem lại phim này với ý định tìm hiểu nhạc jazz trong phim, cốt truyện xảy ra năm 1922, quyển tiểu thuyết được xuất bản năm 1925, thế nhạc jazz trong phim có thể hiện nhạc jazz của thời đại ấy không? Tôi thất vọng thêm lần nữa. Luhrmann đưa hip hop, rap vào phim, đây có thể là biến thể của jazz nhưng vài chục năm sau. Tôi sẽ tìm xem những phim bản trước đó và sẽ trở lại với bài blog này. Tôi đã xem phim năm 1974 Robert Redford đóng, nhưng không còn nhớ chi tiết đặc biệt là soundtrack của phim.

Thôi để hôm khác viết tiếp. Đang viết ngon trớn nhưng tôi phải chuẩn bị đi làm.