Vài câu hỏi về đạo đức

Ảnh không có liên hệ gì với bài 🙂

Thật ra nguyên cái tựa đề là vài câu hỏi về đạo đức, triết học nhập môn trong hai cuồn phim, Irrational Man và the Martian.

Tôi xem phim the Martian hồi tuần trước. Trong các diễn viên điện ảnh nam của Mỹ, tôi thích Matt Damon, cái vẻ thẳng thắn tốt bụng của người Mỹ, nhưng không có cái kiêu hãnh của Tom Cruise. Damon ngay cả khi đóng vai xấu (Good Will Hunting) vẫn không làm mất cảm tình, nhưng tôi không có cảm tình với tất cả các vai tốt Cruise đóng. Tại sao? Chắc phải suy nghĩ đã.

Xem the Martian xong tôi mượn quyển sách về đọc nhưng không thấy hứng vì đã xem phim, nên bỏ đó. Tôi mượn cả quyển The Revenant, mà Leo mới được giải Oscar, vì còn đang chờ đến lượt xem phim. Tôi xem nhiều phim của DiCaprio nhưng cũng không thích diễn viên này.

Không đề cập đến những chi tiết ly kì như một người có thể làm ra nước, sử dụng uranium để sưởi ấm, có gió bão trên Hỏa tinh, v.v… hấp dẫn nhưng khó tin (và vì không phải là sự thật mà chỉ là một mơ ước của loài người, một ngày nào đó sẽ biến thành sự thật, nên nó hấp dẫn), the Martian hay người Hỏa tinh để lại cho tôi vài câu hỏi. Liệu người ta có thật sự để đi cứu một phi hành gia dám hy sinh cả năm hay sáu phi hành gia? Liệu người ta có nên hao tốn bao nhiêu tài sản để thi hành mộng ước chinh phục vũ trụ trong khi thường dân đang đau khổ nghèo đói uống nước nhiễm độc, nhiều thường dân không có bảo hiểm sức khỏe, xã hội còn bao nhiêu vấn đề chưa có cơ hội và phương tiện để giải quyết?

Tôi mới xem Irrational Man (Người Phi Lý hay Kẻ Quá Khích, Kẻ Cực Đoan) tối qua. Thấy phim của Woody Allen tôi hơi ngần ngại, vì tôi không thích cách đối thoại của diễn viên trong phim của Allen. Cái dấu ấn của Allen xuất hiện trong nhiều phim, độc thoại, hay tự hỏi, nhiều suy nghĩ, dí dỏm, hóm hỉnh, thông minh, nhưng hơi … lắp bắp. Tôi không nghĩ ra chữ để diễn tả cách đối thoại của các nhân vật (nam, chính) ngay lúc này. Nhưng Joaquin Pheonix trong vai giáo sư Abe Lucas không có cái vẻ lắp bắp này. Nhân vật nam chính của Allen thường thông minh, trí thức, giàu suy nghĩ, nhưng không thích hợp với xã hội mà nhân vật đang sống, ngay lúc này tôi nghĩ đến anh chàng Gil Pender (Owen Wilson) trong phim Midnight in Paris.

Abe Lucas cũng vậy, giáo sư dạy triết, thông minh, hấp dẫn phụ nữ, nhưng hình dáng bắt đầu suy tàn, bụng phệ, chán đời. Anh chàng tìm lại được ý chí muốn sống nhờ ý nghĩ giết người. Phim đưa ra câu hỏi về đạo đức, liệu người ta có thể giết một người xấu để cứu nhiều người tốt. Lucas giết một ông chánh án thiếu lương tâm để cứu một người mẹ có hai con đang bị khốn khổ vì ông chánh án này.

Phim cũng nhắc đến tên một số triết gia, trong đó có Kierkegaard, Kant, nhưng chỉ thoáng qua nên tôi không sợ hãi chút nào.

Đến giờ đi làm rồi và đến đây tôi cũng vừa hết ý.

Mùa này

 

Mười truyện trong thư của Flaubert

Trong lúc dịch Madame Bovary, bà Lydia Davis (giải Bookerman International 2013) đọc những lá thư nhà văn Gustave Flaubert (người Pháp) viết cho Louise Colet, người yêu của Flaubert. Những mẩu chuyện ngắn trong những lá thư này được bà Davis viết lại thành truyện rất ngắn. Trích trong “Object Lessons” The Paris Review, có mười truyện nhưng tôi chỉ chọn dịch bốn truyện thôi.

Đi nha sĩ

Tuần trước tôi đi nha sĩ, thầm nghĩ rằng ông ta sẽ nhổ răng tôi. Ông ấy nói tốt hơn là chờ ít lâu để xem có bớt đau không.

Ối chà, cơn đau chẳng giảm – Tôi đau đớn vô cùng, đau đến độ lên cơn sốt. Thế là hôm qua tôi đi nhổ nó ra. Trên đường đến gặp ông nha sĩ, tôi băng ngang một cái chợ cũ, trước kia người ta dùng nơi này để hành quyết tội nhân, cũng chẳng xa xưa gì cho lắm. Lúc ấy tôi chừng sáu hay bảy tuổi. Một hôm tôi đi về nhà sau buổi học, ngang qua quảng trường này sau khi người ta vừa chấm dứt một cuộc hành quyết. Cái máy chém vẫn còn đó. Tôi thấy vết máu tươi đọng trên lề đường. Người ta đang mang cái chậu huyết đi.

Đêm qua tôi nghĩ đến tôi sẽ phải đi ngang quảng trường này để đến gặp nha sĩ, cảm thấy lo lắng chuyện của tôi, liên tưởng đến cái cảm giác bất an, của những người bị xử án hành quyết, đã từng băng ngang quảng trường này lo sợ chuyện sẽ xảy đến với họ, dù rằng chuyện của họ thì trầm trọng hơn.

Khi chìm vào giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy cái máy chém; chuyện kỳ lạ là cô cháu bé bỏng của tôi, ngủ ở tầng dưới, cũng nằm mơ thấy cái máy chém, mặc dù tôi đã chẳng hé lộ chút nào về chuyện của tôi. Tôi tự hỏi phải chăng ý nghĩ là một chất lỏng, chảy xuống phía dưới, từ người này sang người khác, sống trong cùng một nhà.

Vợ ông Pouchet

Ngày mai tôi đi dự đám tang ở Rouen. Bà Pouchet, vợ ông bác sĩ, chết hôm qua trên đường phố. Bà ấy đang cùng cỡi ngựa với chồng; bị đột quỵ và ngã xuống. Tôi thường bị cho rằng ít cảm xúc, nhưng chuyện này làm tôi rất buồn. Pouchet là một người đàn ông tốt, nhưng ông ta bị điếc đặc và tính tình cũng không mấy vui vẻ. Ông ấy không trực tiếp khám bệnh nhân, chỉ làm việc trong ngành động vật học. Vợ của ông là một người phụ nữ Anh tính tình vui vẻ, đã giúp ông rất nhiều trong công việc của ông. Bà vẽ hình ảnh cho ông, đọc và sửa chữa bản thảo của ông: họ đi đây đi đó chung với nhau; bà ấy thật sự là người đồng hành. Ông yêu bà ấy lắm và sẽ rất là khổ sở với sự mất mát này. Louis ở nhà đối diện với họ. Anh ta tình cờ nhìn thấy cỗ xe đưa bà ấy về, và đứa con trai của bà mang xác bà ra khỏi xe; mặt bà được che lại bằng cái khăn tay. Lúc bà được khiêng vào nhà, hai chân vào trước, một thằng bé chuyên chạy vặt đến gần. Cậu bé giao một bó hoa thật to bà đã đặt mua buổi sáng hôm ấy. Ôi Shakespeare!

Một Cuộc Hành Quyết

Thêm một truyện nữa về lòng thương người của chúng ta. Ở một ngôi làng không xa lắm, có một anh chàng đã giết một người chủ ngân hàng và vợ của ông ta, sau đó hiếp cô đầy tớ và uống hết cả hầm rượu vang. Hắn bị đem ra tòa, xử tội, và bản án là cái chết. Người ta rất thích thú với câu chuyện của gã thanh niên đặc biệt bị xử án chém đầu này nên từ  khắp nơi đổ xô về đêm trước khi hành quyết – hơn mười ngàn người. Đông đến nỗi tiệm bánh mì bán hết sạch. Và các khách sạn đầy chật người đến độ người ta phải ngủ ở bên ngoài: để xem gã thanh niên bị hành quyết, người ta ngủ ngoài trời trên mặt tuyết.

Và chúng ta lắc đầu ngao ngán vì trò giết nhau của những người giác đấu La Mã. Chán chường thay, những kẻ bất tài chuyên lừa bịp.

Người Bạn Học Của Tôi

Chủ Nhật vừa qua tôi đi viếng vườn Bách Thảo. Đó là công viên Trianon, nơi một người Anh, tính tình cổ quái, đã sống. Ông trồng hoa hồng và bán sang nước Anh. Ông có trồng một vườn hoa thược dược bao gồm những loại hiếm có. Ông cũng có một đứa con gái thường tình tự với một thằng bạn học của tôi, nó tên là Barbelet. Tại vì cô gái này thằng bạn tôi tự tử chết. Nó chỉ mới mười bảy tuổi. Nó tự bắn  bằng khẩu súng lục. Tôi băng ngang sân cát rộng trong cơn gió lộng, và nhìn thấy căn nhà của Calvert, cô con gái đã từng sống nơi này. Bây giờ cô ta ở đâu? Người ta xây gần đó một cái nhà kính trồng cây, có cả cây cọ, và một giảng đường nơi các nhà làm vườn học cách gieo mầm, ghép cây, tỉa cây, và dạy lại cho người khác – tất cả những điều cần biết để nuôi dưỡng một cái cây ăn trái! Có ai nghĩ đến Barbelet nữa đâu – người đã yêu tha thiết cô gái Anh ngày ấy. Ai còn nhớ đến người bạn đam mê mãnh liệt của tôi ngày xưa?

Cô gái đi cùng chuyến xe

mộc lan mấy hôm trước

Thường thường tôi đi chuyến xe bảy giờ đến sở lúc bảy giở bốn mươi lăm có dư mười lăm phút để … không làm gì hết. Tuy nhiên chuyến xe này đông quá, ít chỗ ngồi, nhiều khi người lên xe tranh giành nhau. Có nhiều lần tôi bị một anh tóc quăn da sậm giống như người Ấn độ giành đi trước. Càng ngày tôi càng có cảm giác mình là người già bị bắt nạt. Có một hôm anh ta từ phía sau lại lướt lên đi trước tôi không kềm được nên gõ vai anh nhè nhẹ, anh quay lại, tôi không nói gì chỉ trỏ về phía sau cuối hàng. Anh hiểu ý nhưng hơi sừng sộ. Có lẽ anh nhận ra chẳng ai bênh vực anh (cũng chẳng bênh vực tôi) nên thôi, để tôi đi trước. Anh này, tôi đóan, chắc ở xứ anh mới qua đây.

Tôi đi chuyến sau, bảy giờ mười, đến sở lúc vừa chẵn tám giờ. Thật ra tôi không bị buộc phải chính xác giờ từng phút nhưng tôi quen đúng giờ. Chuyến này vắng, chỗ trống còn nhiều. Tôi chọn một chỗ gần cửa ra vào để dễ ra khỏi cửa lúc vào bến, và gần cửa sổ. Trạm sau, có một cô gái lên, đến ngồi bên cạnh tôi. Trên xe còn rất nhiều chỗ trống. Tôi thích ngồi một mình nên nghĩ ai cũng thích ngồi một mình. Cô có nhiều túi xách. Hai cái túi xách to rộng (loại tote bag có thể chứa giày, dù và các thứ hầm bà lằng) để trên đùi. Một cái bóp nhỏ (purse) đeo lủng lẳng trên vai rơi tuột vào chính giữa tôi và cô. Cô cũng như tôi không thuộc loại béo phì nên chỗ ngồi cũng không chật hẹp. Cái bóp cứ cọ vào người tôi, không đau đớn gì nhưng làm tôi phải chú ý đến sự hiện diện của cái bóp. Cứ mỗi lần xe lửa lắc lư tôi lại bị cái bóp cọ vào người, một cảm giác khó chịu và nhất là làm tôi khó tập trung vào quyển sách. Cô thấy tôi nhìn cái bóp, cô nói:
– Chỗ ngồi chật, tôi không thể làm gì hơn.
Tôi không nói gì dù trong lòng thầm nghĩ, tại sao lại phải mang nhiều túi xách đến thế. Cô ăn diện khá đẹp mắt, nhưng mang túi xách lủng củng như “bag lady”. Chỉ khi cô nói cô không thể làm gì hơn tôi mới đứng dậy xin cô vui lòng cho tôi đổi chỗ. Tôi sang chỗ khác ngồi vì trên xe còn nhiều chỗ rộng. Cô nói to và cười to với một anh khác ngồi gần đó, phía bên kia cửa sổ, đại khái là càng tốt, rộng chỗ ngồi cho cô.

Hôm sau, tôi vẫn ngồi chỗ cũ của hôm qua. Cô gái lần này lại đến ngồi bên tôi, vẫn có ba cái túi xách, nhưng lần này cô cẩn thận không để cái túi cọ lên người tôi. Như thế cô nhận ra rằng, cô có thể chọn đối xử lịch sự hơn với một bà già Á châu. Lần này tôi không đòi đổi chỗ.

Nhưng hôm sau nữa tôi chọn chỗ ngồi khác, xa cửa ra vào hơn một chút. Tôi nghĩ thầm, tôi chỉ còn chưa đầy 900 ngày là có thể về hưu, không hơi sức đâu mà tranh giành chỗ ngồi trên xe lửa. Ngay cả một chỗ sống trong cuộc đời còn không giữ được hơn trăm năm, sá gì…

 

 

Ngày đầu xuân

Đêm qua tuyết rơi một lớp mỏng dù đã chính thức là mùa xuân. Tưởng gì chứ tuyết rơi tháng Ba thì chẳng lạ. Năm ngoái trong computer của tôi lưu lại ngày 25 tháng Ba ảnh tuyết thật dày tràn trề. Sáng nay thấy ảnh hoa xuân của nàng Tôn Nữ đất Cali mà nhớ mấy câu hát xuân rất tình tứ có phần nào lẳng lơ trêu ghẹo các nàng thiếu nữ của Phạm Duy. “Lòng xuân lơ đãng má xuân hồng, cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng. Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn không. Và nhớ thêm bài hát “Đan Áo Mùa Xuân” Lệ Thu hát.

Anh sẽ về khi mai vàng trước ngõ, và lang thang chim én mang sầu về cuối trời. Quà cho em là bướm, là hoa thơm cỏ biếc, với gió mát lưng đồi, với tiếng sáo tuyệt vời.

Giá mà các nàng cứ thích quà là gió mát mai vàng cỏ biếc thế này thì các chàng dù nghèo cũng chẳng sợ… vỡ mộng.

Nói chuyện vỡ mộng làm tôi nhớ đến một bài thơ về nàng công chúa Bạch Tuyết của Bruce Bennell vì cuộc đời quá thực tế, không đẹp như cổ tích.

The True Story of Snow White (viết năm 1989) của Bruce Bennell (sinh năm 1940).

Almost before the princess had grown cold
Upon the floor beside the bitten fruit,
The Queen gave orders to her men to shoot
The dwarfs, and thereby clinched her iron hold
upon the state. Her mirror learned to lie,
And no one dared speak ill of her for fear
She might through her devices overhear.
So, in this manner, many years passed by,
And now today not even children weep
When someone whispers how, for her beauty’s sake,
A child was harried once into a grove
And doomed, because her heart was full of love,
To lie forever in unlovely sleep
Which not a prince on earth has power to break

Chuyện thật về Bạch Tuyết
Nàng công chúa thi hài vẫn chưa lạnh
Trên nền nhà quả táo dang dở vẫn nằm đó
Nữ hoàng ra lệnh quân sĩ bắn chết
Mấy chú lùn, và từ đó siết chặt gọng kềm
cai trị. Cả tấm gương thần cũng học nói dối
Chẳng còn ai dám nói sau lưng bà vì sợ
Bà nghe được bằng những máy thu âm bí mật
Tình trạng này tiếp diễn trong nhiều năm
Đến nỗi bây giờ trẻ con cũng chẳng khóc
Khi có người thì thào, chỉ vì vẻ đẹp của nữ hoàng, mà.
Đứa trẻ bị bắt cóc đem vào rừng
Số phận tai ương, chỉ vì trái tim của nàng đầy ắp yêu thương
Mãi mãi chìm trong giấc ngủ cô đơn
Chẳng có vị hoàng tử nào đủ khả năng đánh thức.

trái tuyết
Tuyết tháng Ba năm ngoái
nở xum xuê
Hoa đào tháng Ba năm nay

 

 

 

Hai bức tranh trừu tượng

Vết thương lành
Vết thương đã lành

 

Da khô
Da khô

Hai bức ảnh trên là ảnh của vỏ cây sycamore. Hai hôm liên tiếp đi rừng, tôi bỗng giật mình vì nhận ra là liên tiếp hai ngày tôi vẫn không nhớ ra cái cây có loại vỏ như thế này tên gì. Lì lợm không muốn mở sách về cây cối để tìm tên của nó. Biết đây là loại cây có cái lá hình vương miện, cũng tương tự như lá maple nhưng phần dưới cùng của lá nó phẳng hơn (theo lời mách bảo của HN). Biết là quả của nó trông giống như cái hạt của quả cóc. May quá, sáng nay thì nhớ ra tên của nó.

Chụp bằng phone Samsung. Mãi đến hôm nay vẫn còn chụp bằng auto. Hôm qua mở chế độ “phần chụp ảnh chi tiết” gọi là pro (dành cho người biết cách dùng máy ảnh như những người chuyên nghiệp) định chụp kiểu chân dung, có chọn trung tâm ảnh gần hay xa mà tí toáy mãi chẳng thành công. Tội nghiệp người đi chung phải chờ mình lâu lắc nên thôi. Về nhà mới mở cẩm nang chỉ cách sử dụng ra đọc được một hồi là đầu óc rối mù lên.

WordPress vẫn không họat động bình thường được. Lúc trước tôi dùng feature sharing của wordpress để đăng bài lên cả facebook. Nhưng hôm nay tôi sẽ đăng riêng. Bạn nào tiện với facebook thì có thể check ở đây:

https://www.facebook.com/chuyenbangquo

Cám ơn bạn đã đọc.