Vài tấm ảnh

Tôi bắt bạn đọc nhiều rồi, hôm nay đổi gió, đọc vài câu, xem ảnh xoàng xoàng thôi.

xe ngừng cho đàn vịt băng qua đường
Đàn ngỗng Canada đủng đỉnh băng qua đường. Xe ở hai chiều ngừng lại cho vịt đi qua.
kẻ chận hậu
Kẻ cuối cùng đi chận hậu, theo ngôn ngữ của người hiking kẻ này được gọi là sweeper.
vượt xa lộ an toàn
Cả đoàn đến hồ bình yên
bức tường của một ngôi nhà cổ
Vách tường của một ngôi nhà cổ xưa trong thành phố Newark, New Jersey.
clematis
Hoa clematis ở hàng rào một bãi đậu xe
hoa súng trắng
Hoa súng trắng ở hồ Watchung, buổi sáng sớm đi bộ
trái thông
Mấy trái thông của hàng thông quanh bờ hồ Watchung
tượng một người ngồi chống cằm làm bằng những đôi giày
Bức tượng trong viện bảo tàng mỹ thuật Newark, giống một người ngồi xổm chống cằm hay ôm cổ, được kết hợp từ những chiếc giày.

Nghĩ vụn chuyện dịch

Dr. Louise Banks: Despite knowing the journey… and where it leads… I embrace it… and I welcome every moment of it.

Đây là một câu trích dẫn từ phim Arrival. Tôi xem phim này đã lâu, xem tất cả ba lần. Lần thứ nhất, tôi xem phim này trong Blu-Ray DVD. Xem luôn phần phụ trội những chi tiết liên quan đến việc làm phim, trong đó có phần âm nhạc (sound score), làm sao cho có vẻ như là âm thanh từ người hành tinh khác (aliens). Phần sound score của Arrival là của Jóhann Jóhannsson (J. J.) . Ông J. J. có mời một ban nhạc chuyên dùng âm thanh của người nhưng cách âm thanh được phát ra thật khác lạ, có thể nói là kỳ dị, nghe giống như âm thanh của loài vật hay ở trong trường hợp này là người ở hành tinh khác để giúp ông sáng tác âm nhạc cho phim Arrival. Một hôm tôi chợt nhớ đến phim Winged Migration, trong đó phần nhạc đệm là do Bruno Coulais phụ trách. Ông Coulais sở trường dùng âm thanh của loài người, bắt chước tiếng đập cánh, tiếng thở phì phò của loài chim, rất tuyệt vời. Tôi muốn biết chữ trong khoa học được dùng để chỉ bộ môn sử dụng âm thanh này. Rồi nhớ mang máng là trong phim Arrival có. Tôi mượn phim lần thứ nhì, lần này là đĩa phim thường không phải Blu-ray DVD,  không có phần phụ trội. Tôi lại mượn phim này lần thứ ba, Blu-ray DVD. Mỗi lần mượn phim từ thư viện, những phim mới và được giải thưởng, tôi phải chờ đến lượt mình cả tháng, hay hơn. Xem đi xem lại không tìm ra chữ khoa học cho bộ môn sử dụng âm thanh người phát ra cho giống tiếng chim, hay tiếng aliens. Có từ acoustic design, có lẽ là chữ mà tôi muốn tìm. Acoustic engineering được định nghĩa là khoa học dùng để thiết kế, phân tích, và kiểm soát âm thanh. Trong khi đi tìm chữ nói về âm thanh tôi gặp lại câu nói của Tiến Sĩ Louise Banks.

Tôi không phải là người dịch chuyên môn, cũng không dịch giỏi. Chỉ dịch tạm tạm theo cái mình hiểu. Nhưng thỉnh thoảng ngồi suy nghĩ một vài chữ, thấy thú vị. Thí dụ như câu nói trên:

T. S. Louise Banks: Mặc dù biết được cuộc hành trình, nơi sẽ đến, tôi “ôm chầm choàng” lấy nó, và đón mừng nó từng giây phút.

Tôi thấy thú vị nhất là chữ “embrace.” Thú vị vì chữ này cho tôi nhìn thấy rõ sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Việt và Mỹ. Người viết phim kịch (Eric Heisserer) dùng chữ embrace thật hay, có vẻ văn chương đầy vẻ gắn bó, thân thiết, chờ đón, chấp nhận như vòng tay ôm của hai người thân lâu ngày gặp lại nhau. Họ dùng chữ embrace (ôm lấy, ôm chầm choàng), một hành động cụ thể và trực tiếp, cho một cuộc hành trình vốn là một diễn tiến về di chuyển của một người bao gồm cả khái niệm thời gian và không gian.

Người Việt mình ít khi dùng chữ ôm vì ít khi ôm nhau. Mẹ và con trai không ôm nhau khi đã là người lớn. Cha và con gái cũng vậy. Mẹ và con gái còn có đôi khi chứ cha và con trai lại càng không ôm nhau. Trai gái tránh không ôm nhau trước mặt người khác bởi vì cái quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân vẫn tồn tại trong tâm thức của người Việt. Chia tay muôn trùng, người đi kẻ ở không ôm nhau. Xa nhau lâu ngày gặp lại, cũng không ôm. Bày tỏ sự vui mừng, không ôm. Tội nghiệp một người không may, cũng không ôm. Cái ôm thường để chỉ hành động cụ thể, ôm một cái gì cụ thể, ngay cả như ôm cột nhà, ôm cây dừa, ôm tảng đá, ôm người, chứ không ôm lấy như một sự chào đón nhiệt tình đối với một quan niệm hay một ý nghĩ, hay một cuộc hành trình trong tương lai. Chữ ôm trong câu nói của Louise Bank không chỉ  là chấp nhận hay tiếp nhận mà còn hân hoan chào đón; chứ không là ôm theo nghĩa cụ thể nữa. Cách dùng chữ sao mà hay!

Chỉ nghĩ bâng quơ đủ để thấy dịch là một công việc “rất” thú vị và tổn hao tâm sức. Tôi nói lảm nhảm một mình, xin bạn đọc đừng để ý.

What One Can Bear – Lưu Hiểu Ba

Lưu Hiểu Ba (28 December 1955 – 13 July 2017). Một viên đá hứng chịu sức nặng của bạo quyền.

Blog Chuyện Bâng Quơ

What One Can Bear – Lưu Hiểu Ba
For my suffering wife

You said to me
“I can bear anything”
with stubborn eyes you faced the sun
until blindness became a ball of flame
and the flame turned the sea to salt

Beloved
let me ask you through the dark
before you go to your grave, remember
to write me a letter with your ashes, remember
to leave me your address in the netherworld

Your bone-shards will lacerate the page
so you cannot complete a single word
the shattered brushstrokes will pierce your heart
and the scorching heat of your insomnia
will surprise you

A stone that has borne the weight of the world
is hard enough to break my skull
the white lozenges formed from my brains
will poison our love
and our poisoned love
will poison our selves

In the labor camp, December 28, 1996, my birthday
Translated…

View original post 244 more words

Không đề

Hoa mọc hoang trong rừng không biết tên

Một buổi sáng cuối tuần nào đó, đi rừng, tôi gặp mấy cây hoa dại này bên cạnh dòng suối. Chụp bằng phone dí sát vào hoa. Vào ảnh thấy xinh, nhưng bên ngoài thì chẳng ai chú ý. Tôi đi rừng thấy rất nhiều loại hoa dại, có khi là hai cây con con ở dưới bóng mát của cây to vậy mà cũng ra hoa. Thật là kỳ diệu. Chẳng lẽ cứ chụp ảnh mãi sợ ông chồng cằn nhằn.

Sáng nay ngồi đây, thừ người ra không biết viết gì, không có ý tưởng nào thoáng qua trong óc để mình viết vội vàng. Bỗng dưng ngẫm nghĩ mấy câu hát của Leonard Cohen

Oh, crown of light!
Oh, darkened one!
I never thought we’d met.
You kiss my lips and then it’s done.
I am back, back on Boogie street.

Ông Cohen hay nhắc đến Boogie street. Ở một chỗ khác, ông viết “and no one has told us yet, what Boogie street is for.”

Tôi không chắc là tôi hiểu đúng mấy câu hát của ông Cohen. Nhưng tôi hiểu đại khái như thế này.

Ồ, vương miện ánh sáng
Và cái (vương miện) bóng tối
Tôi đã không nghĩ là chúng ta sẽ gặp nhau.
Nàng hôn tôi, thế là hết.
Còn tôi, thì trở lại con đường mang tên Boogie.

Ông hay nhắc đến Boogie Street, như một nơi của hoài niệm. Một nơi chỉ có ông biết. Nơi để cất giữ những tâm tình của quá khứ. Cái hình ảnh ánh sáng tràn đầy như một cái vương miện trùm lên cảnh vật, sau đó là bóng tối bao phủ, làm tôi liên tưởng đến cái có được và cái mất mát. Sự sống và cái chết. Dương và Âm. Hữu hình và vô sắc.

Cũng trong bài này ông viết, tôi quỳ và lau khô chân nàng. Bỗng dưng tôi nghĩ đến Chúa lau chân tín đồ. Ơ, nhưng mà đến giờ phải chuẩn bị đi làm.

Giấc mơ thần tiên giữa mùa hạ

Hai đứa con mùa hè về chơi. Cô lớn về một tuần. Cô nhỏ về sáu tuần. Mới đưa cô nhỏ lên máy bay về Illinois hôm qua. Cô lớn tự lái xe về Kentucky từ hồi tuần trước. Tuần lễ có mặt cả hai đứa con, tụi nó đưa tôi đi New York vì tôi bảo muốn xem viện bảo tàng Mỹ Thuật (the Met, Metropolitian Museum of Art). Thật ra tôi chỉ muốn có thì giờ chơi vui với con, một hình thức vá víu những thiếu hụt trong bổn phận làm mẹ khi các con còn nhỏ.

sân cỏ lâu đài người tắm nắng
Sân cỏ nam thanh nữ tú phơi nắng cho da nâu hồng. Phía sau là lâu đài Belvedere. Lâu đài này luôn làm tôi nhớ đến những vở kịch của Shakespeare. Và dĩ nhiên nhớ đến cuồn phim The Fisher King do Jeff Bridges và Robin Williams đóng chung với nhau, ban đêm hai diễn viên đã “truổng cời” chạy long nhong trên bãi cỏ này. Bạn nào muốn xem thêm ảnh của Belvedere Castle thì nhấn link này. https://chuyenbangquo.wordpress.com/2013/07/13/vai-dong-2/

Cô nhỏ dẫn tôi đi ngang vườn Shakespeare (đây là lần thứ hai), ngang sân cỏ phía trước của lâu đài Belvedere nơi các cô gái và chàng trai đang tắm nắng cho bớt trắng. Chúng tôi cũng đi ngang Delacorte Theater, nơi mỗi mùa hè đều trình diễn kịch Shakespeare, vào cửa miễn phí. Mùa hè này trình diễn hai vở kịch. Julius Cesar và Midsummer Night’s Dream. Vở kịch Giấc Mơ Đêm Giữa Mùa Hạ sẽ bắt đầu vào ngày mai, thứ Hai 10 tháng Bảy 2017.

bảng tên vườn Shakespeare
Vườn Shakespeare
shakespeare garden
Bảng hiệu của vườn Shakespeare, bạn muốn nghe minh họa bằng phone, xin tặng vườn năm USD
Hoa trong vườn Shakespeare
Hoa trong vườn Shakespeare
hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare
Hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare

Dù đã viết về vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ hình như hồi tuần trước, nhưng sẵn đây xin viết tiếp. Đây là một vở hài kịch dài với rất nhiều nhân vật. Đoạn trước tôi chỉ viết sơ qua về loại hoa thần tiên viola (violet) khi bị mũi tên của thần ái tình Cupid bắn trúng trở thành thần dược ái tình. Thoa nước hoa này lên mắt người đang ngủ thì khi thức giấc người ấy sẽ yêu si mê người (hay vật) người ấy nhìn thấy đầu tiên.

Như các bạn đã biết. Người La Mã chiến thắng người Hy Lạp, chiếm trọn vẹn sự giàu có sung túc và nền văn minh của quốc gia này. Họ biến rất nhiều thần thoại Hy Lạp thành thần thoại La Mã, chỉ đổi tên các vị thần. Cupid là vị thần ái tình của La Mã. Tên Hy Lạp của thần này là Eros. Theo thần thoại La Mã, Cupid là con của Venus (Vệ Nữ) nữ thần của tình yêu và nghệ thuật và Mars, thần Chiến Tranh. Từ lâu tôi nghĩ rằng vì Venus và Mars yêu nhau, nên chúng ta thường có những truyện trái ngang của tình yêu xảy ra trong chiến tranh (thí dụ như Chinh Phụ Ngâm Khúc).

Trong vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ, Shakespeare có một đoạn thơ như sau:

How happy some o’er other some can be!
Through Athens I am thought as fair as she.
But what of that? Demetrius thinks not so.
He will not know what all but he do know.
And as he errs, doting on Hermia’s eyes,
So I, admiring of his qualities.
Things base and vile, holding no quantity,
Love can transpose to form and dignity.
Love looks not with the eyes, but with the mind,
And therfore is wing’d Cupid painted blind.
Nor hath Love’s mind of any judgment taste;
Wings, and no eyes, figure unheedy haste.
And therefore is Love said to be a child,
Because in choice he is so oft beguiled. 

Đây là đoạn thơ mà nhân vật Helena đã than thở khi bị  Demetrius (người yêu của nàng) phụ bạc, để chạy theo Hermia, cô bạn gái thân nhất của Helena.

Dịch tạm: 

Có người được hạnh phúc hơn nhiều người khác
Ở cả thành phố Athens, người ta nghĩ là tôi cũng xinh đẹp như bạn ấy
Nhưng điều này không quan trọng, bởi vì Demetrius không nghĩ như thế.
Chàng không phải là người hiểu biết tất cả mọi chuyện trên đời, nhưng chàng biết chắc một điều (là Hermia rất xinh đẹp, nhất là đôi mắt).
Và chàng đã sai lầm (vì phụ bạc Helena), khi mê mẩn đôi mắt Hermia,
Còn tôi thì sai lầm khi say mê tính tốt (tưởng lầm) của chàng.
Chuyện thấp hèn và sa đọa, không đếm hết.
Tình yêu có thể biến đổi thành hình dáng trở thành cụ thể và trang trọng.
Tình yêu không nhìn bằng đôi mắt mà bằng tâm hồn.
Vì thế chàng Cupid có đôi cánh thường được miêu tả là mù quáng;
Và tâm hồn của Tình Yêu cũng không có những phán xét bằng thành kiến
Có cánh (để bay bổng), nhưng không có mắt (để nhìn), tượng trưng cho sự vội vã dẫn đến sai lầm.
Vì thế Tình Yêu bị cho là một đứa trẻ.
Bởi vì trong sự chọn lựa, cậu bé dễ bị dụ dỗ.

Bài thơ dài, nhưng tôi chỉ muốn nhắm đến phần Shakespeare nói rằng Cupid, thần Ái Tình, chỉ là một cậu bé có cánh, mắt thì mù, không mù thì cũng lòa, nên có cung tên cứ bắn vào tim loài người để họ rơi vào (cạm bẫy) của tình yêu (fall in love) nhưng vì mù nên cứ bắn trật, nên người này yêu mà người kia không đáp lại, vì thế nhân loại cứ khốn khổ “khi theo nhau, khi theo mãi tình yêu”“tình thì cứ theo người như chiếc bóng, người thì không bắt được bóng bao giờ.” Không nhớ tên tác giả.

Cupid đang hôn Psyche
Cupid và Psyche tượng điêu khắc trong viện bảo tàng MET.  Tác giả là Antonio Canova, Italian, Possagnio 1757-1822, Venice. Cupid and Psyche, Plaster

 

Cupid and Psyche
Cái (sắp sửa) hôn của Cupid và Psyche

Theo thần thoại La Mã, Cupid là một cậu bé bụ bẫm có cánh. Nhưng theo thần thoại Hy Lạp thì Eros là một chàng thanh niên mảnh mai. Tôi cũng đã kể chuyện tình của Cupid với Psyche rồi, ở đây nhắc lại một chút để bạn nào chưa đọc bài cũ thì đọc ở đây.

Psyche là một cô gái rất đẹp bị bắt đem tế thần. Thần là một con quái vật thích ăn thịt người. Psyche bị mang đến một tảng đá to trên một hòn núi cao, trói ở đó chờ quái vật đến bắt. Thần Gió mang Psyche đến một lâu đài rực rỡ. Hằng đêm có một chàng thanh niên che mặt đến yêu nàng. Đến lúc đêm khuya, yêu trong bóng tối. (“Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa. Nửa đêm chàng đến, sáng ra về. Đến như giấc mộng, khuya không đợi. Đi tựa mây trời không định nơi.” Viết lại theo trí nhớ một đoạn thơ không biết là của ai, chỉ biết được tác giả Quỳnh Giao đặt ở lời tựa quyển Cánh Hoa Chùm Gửi) Tình yêu của hai người càng ngày càng thắm thiết. Cứ gần sáng là chàng biến đi mất. Chàng căn dặn nàng không được tìm cách nhìn mặt chàng. Psyche không ngăn nổi sự tò mò nên một đêm kia đốt đèn soi mặt người tình và dầu trong đèn bị nghiêng đổ lên da chàng, hơi nóng của dầu đánh thức chàng. Psyche nhận ra đó là Cupid, và Cupid nổi giận nên bỏ đi. Nụ hôn đầu tiên của Cupid dành cho Psyche được giới văn nghệ sĩ ghi chép lại, bằng văn chương và điêu khắc, vì đây là biểu tượng đánh mất sự trong trắng của tuổi thơ ngây và đánh thức khoái lạc của nhục dục.

Hằng năm, cứ vào mùa hè, là tôi lại nghĩ đến đi xem kịch Shakespeare trong Central Park. Vé thì phát không, nhưng ai cũng muốn xem nên không dễ có vé. Tặng ban tổ chức 500 USD thì sẽ có vé xem theo ý mình chọn bất cứ ngày nào. Muốn đi xem kịch này thì phải thuê khách sạn ở qua đêm trong New York nếu không muốn lái xe vào thành phố sợ chen lấn chật chội. Kịch bắt đầu lúc tám giờ, tan kịch, lấy xe xong cũng phải mười một giờ. Nghĩ đến đó là tôi thấy mệt rồi. Thôi thì để nó là một giấc mơ chưa thành, và như thế mỗi mùa hè lại mày mò xem năm nay vở kịch gì sẽ được trình diễn và tìm đọc vở kịch ấy.

Bạn nào thích nghe nhạc thì mời nghe Midsummer Night’s Dream của Mendelssohn.

Bồ của tôi

Tôi nuôi Bồ đã được vài năm. Bồ đến lần đầu còn nhỏ xíu. Xông xáo, xục xạo. Giữa ngày đông tháng giá, Bồ ngồi ngay cửa sau, ngó chăm bẳm vào nhà, chờ cho ăn. Có lần tôi bắt gặp Bồ lục lọi cái thùng đựng chai và báo (recycle). Cái mặt Bồ khá dữ tợn, nhưng nhìn hoài bỗng thấy dễ thương.

Làm cho Bồ cái ổ, Bồ đến ngủ. Bồ bị thương tích vài lần, sợ Bồ chết nhưng đều qua khỏi. Lúc sau này Bồ quyến luyến với một cô bé xinh xinh. Rồi cũng có vài đứa con trai giống Bồ đến sau sân nhà tôi. Bồ đánh nhau với một đứa trẻ hơn Bồ và dữ hơn Bồ. Cái thằng ấy khỏe và nhanh nhẹn hơn, nhưng trông nó cũng giống như lần đầu tôi gặp Bồ. Trẻ và khỏe.

Đi chơi mấy ngày, tôi e ngại, không ai cho Bồ ăn. Ông chồng tôi nạt tôi, cứ lo lắng tầm phào. Kệ nó. Đàn ông sao hay nhỉ, chẳng nhiều tình cảm vớ vẩn như mình.

Có một buổi tối, tôi đi ăn tiệc về, thấy trên sàn gỗ sân sau đầy lông. Mấy cái chén thức ăn nước uống đổ vung vãi ngổn ngang như một bãi chiến trường. Không biết đó là lông chim hay lông chipmunk hay là những mảnh vụn da thịt của Bồ. Tôi nghĩ Bồ gặp chuyện không may, tuy nhiên sáng hôm sau Bồ vẫn đến ăn sáng. Tôi thấy Bồ mệt mỏi, xơ xác. Mỗi lần nghe tiếng đánh nhau trong rừng đêm khuya tôi vẫn lo lắng cho số mạng của Bồ. Buổi chiều tuần trước tôi nghe tiếng kêu gào thất thanh. Chạy vội ra sân thì chẳng thấy manh mún nào. Anh chàng trẻ tuổi, con của Steve đang làm vườn cũng hỏi vọng sang.
“Bà có thấy con chồn cắn cổ con mèo không?”
“Không! Tôi chỉ nghe tiếng gào không thấy gì cả.”

Rồi Bồ biến mất. Ngày nào tôi cũng trông ngóng. Một ngày. Hai ngày. Ba ngày. Cả tuần ngày nào tôi than thở với con gái của tôi.
“Mẹ nghĩ Bồ bị giết chết rồi.”
Con tôi nói.
“Con rất tiếc. Con cũng buồn mẹ ơi.”

Buổi chiều đang ngồi xe lửa trên đường về nhà. Tôi nhận được text của con tôi. Tôi tưởng tượng như con bé đang liến thoắng trong message.

“Boyfriend còn sống mẹ ơi. Nó đến ăn. Và trông nó rất khỏe, chẳng có vẻ gì mệt mỏi đau yếu hay thương tích gì cả. Nó còn giết cả con chipmunk nữa.” Tôi thấy mừng vô cùng, nhưng cũng len lén có chút buồn. Mừng là Bồ chưa chết. Nhưng buồn là Bồ phản bội mình.

Tôi nhớ đến nhân vật trong “Life of Pie” đã nói một câu, đại khái là thú vật nó không có tình cảm, nó đến hay đi chỉ vì thức ăn chứ không phải vì yêu mến người cho nó ăn. Nói thêm để giải thích cho bạn nào mới quen. Boyfriend là con mèo hoang trắng đen. Bồ là nghĩa tiếng Việt của Boyfriend. Đáng lẽ phải gọi là thằng Bồ, hay anh Bồ, nhưng gọi thằng thì nghe tệ quá, còn anh thì lại sang quá. Vì thế nên chỉ gọi là Bồ.

Nghĩ cũng lạ, con mèo hoang không phải của mình. Thế thì tại sao vắng nó tưởng nó bị chồn cáo giết chết lại thấy buồn. Rồi biết là nó không chết lại thấy mừng. Rồi biết là nó không đến là vì nó không cần ăn thì lại buồn (tí xíu thôi).

Quả đúng là mình có trái tim trắc nết.

Boyfriend

Viết tiếp sáng Chủ Nhật 2 tháng Bảy, 2017. Con mèo Ginger, bạn của Boyfriend vẫn đến ăn, chờ được cho ăn. Lúc sau này có thêm con mèo đen tuyền, mắt xanh (hay vàng) đến ăn. Con mèo này trẻ, gầy, nhanh nhẹn, bắt chim rất giỏi, không thua gì Nora lúc còn trẻ, đến ăn. Nhưng tôi không cho ăn. Ông Tám vẫn cho mèo ăn còn tôi thì không muốn cho mèo hoang ăn nữa. Tôi vẫn không gặp lại Boyfriend. Có lẽ là đâu đó, các nhà láng giềng, hoặc chủ cũ của Boyfriend đã nuôi giữ nó hay đem nó đi nhà thương. Có nghĩa là có một người nào đó thương mèo hơn tôi thương. Người Mỹ, bạn không biết, có nhiều người thương thú vật hơn cả thương người.

Tôi thì không còn muốn yêu thương thêm một con mèo nào nữa.

Mùa hè

Vài hình ảnh của mùa hè và một bài thơ của Levertov

Mưa liên tiếp mấy ngày. Thứ Bảy mưa, tưởng không đi rừng được nhưng đến 9 giờ thì nắng lên. Thế là tôi bị gậy lên đường. Chiều về gặp may, thấy một chàng blue heron đứng dưới bụi cây. Chàng có vẻ dạn dĩ tôi đến khá gần mà không bay. Thấy tự điển dịch là con vạc (hay hạc); thế thì đây là hình ảnh thơ mộng của câu hát “như cánh vạc về chốn xa xôi.”  Chàng đứng một mình, chậm chạp nhẹ nhàng, lặng thinh như một ông già cô độc (theo như lời của bạn HN).

blue heron
Blue Heron

 

quả bóng đỏ
Quả bóng đỏ

Có người nào tổ chức tiệc, để thoát bay một quả bóng đỏ trong rừng. Quả bóng đỏ, như một hạnh phúc đã rời tầm tay không thể nào lấy lại; Như một đứa trẻ thoát khỏi vòng bảo bọc của cha mẹ cố bay lên cho đến trời xanh; Như một quả dâu khổng lồ vừa chín.

Living

Sống

The fire in leaf and grass
so green it seems
each summer the last summer.

Ngọn lửa trong lá và cỏ
Xanh biếc, như thể
mỗi mùa hè là mùa hè cuối

The wind blowing, the leaves
shivering in the sun,
each day the last day

Gió thổi, lá
run rẩy trong nắng
mỗi ngày là ngày cuối

A red salamander
so cold and so
easy to catch, dreamily

Con lươn đỏ
rất lạnh và
rất dễ bắt, mơ màng

moves his delicate feet
and long tail. I hold
my hand open for him to go
Each minute the last minute.

di chuyển mấy cái chân mỏng manh của chàng ta
và cái đuôi dài. Tôi mở
lòng bàn tay để thả chàng ta ra
Mỗi phút là phút cuối.

Denis Levertov

Ghi chú: Nguyễn thị Hải Hà dịch. Salamander trông giống như con lươn nhưng có chân.