Thư thì mỏng

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

Bài này đã đăng ở Thư Quán Bản Thảo số 74 tháng 4 năm 2017

Ở một thành phố nhỏ ít người Việt mỗi lần muốn đi ăn nhà hàng Việt phải lái xe có khi cả tiếng đồng hồ. Đa số người Việt ở các thành phố nhỏ này tự nấu ăn, nếu là đàn ông không biết nấu thì vợ nấu. Người không vợ, hay vợ không biết nấu món ăn Việt thì ráng nhịn, riết rồi quen. Một nhà hàng nhỏ nghĩ ra cách này. Họ nhận nấu cơm tháng, giá phải chăng, giao tận nhà. Câu chuyện xảy ra như thế này.

Ông mở hộp cơm. Trong cái hộp nhỏ để đựng đũa muỗng và gia vị, có kèm một mảnh giấy. Giấy màu vàng có kẻ hàng, loại giấy đóng thành xấp thường bán trong siêu thị.

Ngày … Tháng … Năm …

Thưa ông,

Tôi tự hỏi ông có thích món ăn tôi nấu hay không. Đây là ngày thứ ba tôi để ý thấy hộp cơm của ông hết sạch. Ông có thể cho tôi biết những món ăn hợp khẩu vị để tôi phục vụ khách hàng tốt hơn.

Đầu bếp.

TB: Ông không cần phải rửa gà mên đâu. Khách hàng chẳng ai làm thế cả. Ông là người duy nhất.

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

 

Thưa cô,

Tôi đoán người nấu cơm là phụ nữ nên gọi bằng cô. Gọi cầu may chứ ở Mỹ này người đầu bếp là đàn ông cũng khá nhiều. Nếu tôi sai, xin đừng chấp. Thú thật với cô tôi chưa bao giờ được ăn cơm phần ngon đến như thế. Món ăn của cô thật vừa miệng với tôi. Cách cô bới cơm cũng thật công phu tươm tất.

Tôi đoán cô là đầu bếp mới, bởi vì chỉ gần đây tôi mới thấy món ăn ngon đặc biệt. Cô là người đầu tiên đã viết thư hỏi ý kiến của tôi. Theo thể lệ của nhà hàng tôi không được đặt món ăn. Nếu tôi đặt món ăn, nhà hàng sẽ tính giá khác. Cô nấu ăn rất ngon nên món gì tôi cũng thích.

Cô cũng là người đầu tiên sau mấy mươi năm tôi ở nước ngoài gọi hộp đựng cơm là gà mên. Tôi rửa gà mên là vì tôi đã giao ước với ông chủ nhà hàng. Tôi không thích dùng muỗng nĩa nhựa cũng như hộp nhựa để đựng cơm. Người ta ăn xong là ném hộp nhựa đũa muỗng nhựa vào thùng rác. Tôi không muốn dùng đồ nhựa vì ô nhiễm môi trường nên tôi đề nghị được dùng gà mên. Chúng tôi thỏa thuận là tôi sẽ có hai cái gà mên. Người giao thức ăn mới sẽ lấy đi cái gà mên cũ. Tôi rửa gà mên sạch sẽ trước khi giao lại người giao cơm. Trân trọng cám ơn cô.

 

Khách hàng trung thành của cô,

An

 

TB: À, tôi xin phép được trêu cô một chút. Sao cô tài thế? Làm thế nào cô biết tôi ăn hết thức ăn trong hộp, khi tôi đã rửa gà mên sạch sẽ?

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Cám ơn ông đã thích món ăn tôi nấu. Nếu được nhiều khách hàng như ông tôi sẽ giữ được công việc này lâu dài. Thời buổi này tìm việc khó quá nhất là những người bị tật câm điếc, có con nhỏ còn đi học, lại không biết dùng computer như tôi.

Tôi kể ông nghe cho vui. Thật ra những món ông ăn mấy ngày hôm nay là những món đặc biệt tôi nấu cho chồng tôi. Anh ấy làm việc ca ba trong một xí nghiệp, nên giờ nghỉ giải lao ăn tối của anh ấy cũng là giờ ăn cơm tối của ông. Trong xí nghiệp có nhiều người Trung Hoa và Ấn Độ họ cũng đặt cơm tháng ở nhà hàng, món Hoa và món Ấn do người khác nấu. Tôi nhờ người giao cơm tối cho khách hàng sẵn dịp giao cơm cho chồng tôi. Đây là một việc xa xỉ, chính chồng tôi cũng nói như thế, anh có thể tự mang cơm đi, nhưng tôi muốn chăm sóc anh ấy nhiều hơn.

Tôi không thể bày tỏ bằng lời nên tôi muốn bày tỏ bằng hành động. Dường như chúng tôi không còn tình yêu của buổi ban đầu. Giữa hai chúng tôi là sự im lặng bao la. Tôi nhớ mẹ tôi thường bảo rằng nấu ăn ngon là có thể chinh phục tình yêu của đàn ông bởi vì đường vào trái tim của người đàn ông đi ngang qua cái bao tử. Tôi muốn tái chinh phục chồng tôi dù khi mới quen anh ấy, tôi chẳng phải nấu nướng nuông chìu gì cả. Tôi tìm được cuốn sổ gia chánh trong đó mẹ chồng tôi chép lại cách nấu những món ăn chồng tôi rất ưa thích. Bữa đầu tiên tôi rất hồi hộp mong chồng tôi về để xem anh ấy nói gì. Anh chẳng nói gì, còn có vẻ lầm lì hơn bình thường.

– Anh ơi, món ăn em nấu hôm nay có ăn được không?

– Được!

– Chỉ được thôi sao?

– Chứ còn sao nữa!

– Anh thích món nào nhất?

– Bông cải xào thịt bò.

Anh lẳng lặng thay đồ lên giường ngủ, quay lưng lại phía tôi. Tôi ôm cánh tay anh, anh kêu nóng và mệt. Bông cải xào thịt bò? Tôi đâu có nấu món ấy. Đến ngày thứ ba thì anh ấy mắng tôi.

– Em chỉ ở nhà nấu ăn mà chẳng làm nên chuyện. Em phải thay đổi món chứ ngày nào cũng bông cải xanh xào thịt bò anh ngán tới cổ rồi.

Tôi đoán là ông giao cơm đã giao nhầm gà mên cơm của chồng tôi cho ông. Nhưng tại sao lại bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày? Thật là vô ý! Nhà hàng làm việc bất cẩn như vậy sẽ mất khách hàng và tôi sẽ bị mất việc làm.

Còn ông, đã đặt cơm tháng từ bao giờ? Ông không có người nấu ăn cho ông sao? Hỏi thế nhưng ông không phải trả lời nếu cảm thấy bị xâm phạm đời tư. Chúc ông ăn ngon và ngủ cũng ngon.

Đầu bếp trung thành của ông,

Anna

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Cô Anna thân mến,

Thật đáng tiếc chuyện nhầm lẫn như thế đã xảy ra, nhưng cô cũng hiểu lỗi không phải ở tôi vì tôi chỉ là người nhận. Thật là đáng buồn khi ông nhà phải ăn bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày mà tôi lại được ăn ngon. Tối qua, món canh khổ qua nhồi cá thát lát thật tuyệt vời. Cái cách cô dùng lá hành để cột cho trái khổ qua đừng bị bung ra thật tỉ mỉ và đẹp mắt. Ở xứ này làm sao mà cô tìm được cá thát lát? Ở đây, người ta dùng loại cá đóng hộp không vừa dai vừa dòn như cá thát lát ở Việt Nam. Trong nước dùng lại có vài cái nấm hương đã được nấu mềm. Tôi chỉ được ăn món ngon như thế này khi mẹ tôi còn sống. Cách nấu này có lẽ đã thất truyền từ lâu, phải nói là hiếm thấy ở xứ này. Ở Hoa Kỳ một mình lâu ngày, tôi rất dễ tính trong việc ăn uống, nhưng dễ tính không có nghĩa là không “appreciate” món ăn ngon.

Còn chuyện nhà hàng xào bông cải xanh với thịt bò liên tiếp ba ngày thì tôi có thể giải thích như vầy:

Ngày thứ nhất, sau khi ăn món bún thịt nướng cô làm, tôi thích quá nên gọi điện thoại với nhà hàng khen món ăn rất ngon. Cứ tiếp tục làm như thế. Ông chủ, nhà hàng vô cùng ngạc nhiên vì có lẽ chẳng ai gọi điện thoại khen nhà hàng thức ăn ngon bao giờ. Lôi thôi họ lại tăng giá cơm tháng. Tôi ăn cơm ở nhà hàng này bao nhiêu năm đâu có bao giờ tôi khen.

Xin cô đừng trách mắng người giao cơm, và tiếp tục nấu cho tôi ăn. Tôi có thể trả giá cao hơn cho nhà hàng hoặc là góp riêng cho cô. Thú thật với cô, mấy ngày nay tôi cứ nhấp nhổm chờ ông giao cơm. Thật ra tôi chờ lá thư của cô. Tôi phải đọc thư của cô trước rồi mới có thể ăn cơm một cách chậm rãi, ăn để thưởng thức món ăn. Những dòng ngăn ngắn của cô đủ để mang cho tôi một niềm vui nhỏ trong  một buổi tối cô quạnh của tôi. Tuy nhiên, thư thì mỏng…

Đồng nghiệp của tôi thường bảo tôi là một người cô độc. Tôi không nghĩ đến sự cô độc của mình mãi cho đến lúc gần đây. Buổi tối của tôi vắng lặng và dài thăm thẳm. Chính sự vắng lặng của những buổi tối khiến tôi ngại ngần không muốn về hưu. Vâng, tôi đã đến tuổi về hưu. Thật ra tôi có thể về hưu từ hai năm trước nhưng tôi cứ chần chờ. Ban ngày tôi vui với công việc nhưng buổi tối thì… tôi thật là thèm có người trò chuyện cùng tôi.

Trò chuyện là một nghệ thuật. Người ta bảo rằng về già nên kết hôn hay kết bạn với những người biết trò chuyện. Nhưng với tôi chuyện kết hôn đã quá trễ rồi. Còn kết bạn lại càng khó khăn hơn nữa. Ở đây ít người Việt, nhưng bạn Việt hay bạn Mỹ cũng thế, chúng tôi có gặp nhau thì cũng chỉ ăn và nhậu. Chỗ làm việc lại càng ít khi tâm sự với nhau. Tôi chưa hề gặp được người nào có thể nói chuyện cho tôi nghe hay chịu khó nghe chuyện tôi nói. Có được một người có thể trò chuyện với mình, chia sẻ ý nghĩ với mình thật là quá khó. Thảo nào ông hoàng trong truyện “Một Ngàn Lẻ Một Đêm” không thể giết cô gái chăn gối với ông chỉ vì cô biết kể chuyện và nghe chuyện ông kể.

Cô hỏi tại sao tôi ăn cơm tháng. Tôi xin thưa với cô vì không có ai chịu nấu cho tôi ăn. Xưa lắm rồi, tôi có lần kết hôn với một cô gái Hoa Kỳ nhưng cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được hai ngày. Chuyện khá phức tạp khó giải thích trong một lá thư nhưng nếu cô tiếp tục nấu ăn cho tôi thì một dịp thuận tiện nào đó tôi sẽ kể. Tôi không biết cô có tin tôi được không nhưng tôi nghiện món ăn cô nấu mất rồi. Dĩ nhiên tôi có thể ăn ngoài tiệm. Ở đây có biết bao nhiêu nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ. Thức ăn bình dân thì có Ihop, McDonald, Burger King, Roy Rogers, Kentucky Fried Chicken nhưng không có ai có thể mang hương vị thức ăn VN đến tận nhà cho tôi. Cái cách nấu chỉ những bà mẹ Việt Nam thời xa xưa mới biết.

Xin được phép kể cô nghe về một cuốn phim hoạt họa, nhân vật chính là một con chuột nấu ăn ngon. Con chuột Rémy này đã chinh phục được một nhà phê bình thức ăn nổi tiếng khắc nghiệt nhất Paris; một tay ông đã làm cho bao nhiêu nhà hàng phải đóng cửa và chủ nhân nhà hàng tự tử. Cái món ăn Rémy nấu đã chinh phục được Anton lại là món ratatouille một món ăn dân dã, giống như hương vị mà bà mẹ Anton đã nấu. Như vậy chắc cô biết là tôi quí thức ăn cô nấu đến mức nào.

A! Hôm nay tôi dông dài quá mức, xin cô tha lỗi. Cô có thể cho tôi biết vì sao cô bị mất tiếng nói và không thể nghe được không? Tai nạn hay bạo bệnh? Làm thế nào cô có thể học và viết thật rành rẽ khi không thể nói và không thể nghe. Không dễ dàng để viết được như vậy. Tôi thật khâm phục cô. Thân mến.

 

Khách hàng trung thành của cô,

An

 

Tái bút: Tôi quên cảm ơn cô đã kèm theo miếng sương sa được đổ khuôn thành đóa hoa nhiều màu. Đẹp quá nên tôi không nỡ ăn, còn để dành trong tủ lạnh. Thời bây giờ tái chinh phục trái tim chồng của cô bằng món ăn thì không thực tế chút nào. Tôi nghĩ cô nên thay đổi cách trang điểm và trang phục, hẹn hò ông chồng và thử có thêm một đứa con để hâm nóng lại tình yêu thì thiết thực hơn.

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Con gái của Anna được sáu tuổi. Cháu thích xem phim hoạt hình. Còn Anna thì thích tất cả những gì liên quan đến thức ăn nên Anna cũng có xem phim Ratatouille cùng lúc với đứa con gái. Hai mẹ con đều rất thích phim này. Anna cảm ơn ông đã “nghiện” thức ăn Anna nấu. Hôm nay Anna trổ tài, đây là một trong những tuyệt chiêu của Anna, vịt nấu măng. Măng khô loại ngon, được ngâm cho hết chát, Anna chỉ chọn những đoạn mềm, ngọn của búp măng khi còn tươi, xào cho ngấm trước khi cho vào nước lèo. Đây là một món ăn rất nhiều công. Gỏi để ăn với bún măng có cả bắp chuối bào mỏng, toàn là những thứ nhiều công và nguyên liệu khó tìm. Nói không phải để kể công hay đòi lên giá tiền vì Anna hay kiêu ngạo nghĩ rằng tiền khách hàng trả công chẳng thể bì với tấm lòng người chăm chút món ăn.

Chồng của Anna là người sinh ra lớn lên ở Mỹ chuộng thức ăn Mỹ hơn thức ăn Việt Nam. Không hiểu tại sao mẹ chồng của Anna lại nghĩ là anh ấy thích thức ăn Việt. Hôm qua anh ấy bảo Anna nên học nấu spaghetti và các loại thức ăn Mỹ hoặc Ý. Rồi anh ấy lại bảo thôi đừng bới cơm cho người giao cơm cho anh ấy nữa vì bạn đồng nghiệp của anh chỉ ăn sandwich nên chế nhạo anh mỗi lần thấy thức ăn có muỗng đũa lỉnh kỉnh linh tinh. Lúc sau này anh về nhà rất trễ, thường khi sặc sụa mùi rượu. Và sáng nay khi anh ngủ Anna soạn quần áo đem giặt thấy quần áo anh sực nức mùi nước hoa và áo anh có vết son. Son dính bên trong lớp áo như thể người ta dở áo anh lên rồi hôn vào đó làm dấu hiệu cho Anna biết. Anna chẳng biết nói sao, làm gì cho vơi bớt nỗi buồn của mình. Có những chuyện không thể nói với người thân nhưng lại có thể giải bày với người lạ, có lẽ vì người ta chẳng biết mình là ai, lời nói hay chữ viết thả theo gió bay.

Ngày xưa anh sang Việt Nam chơi gặp Anna, đem lòng yêu đòi cưới. Anna thích lấy chồng ở ngoại quốc vì nóng lòng muốn thoát khỏi đời sống tù túng của xã hội Việt Nam. Theo anh sang Mỹ Anna có giấy tờ hợp pháp nhưng tiếng Anh vẫn chưa giỏi và không có nghề nhất định nên rất khó gia nhập xã hội Mỹ. Trước kia Anna thích nấu ăn và ở nhà nuôi con. Bây giờ thì rất nhiều khi Anna mơ được đi làm như những người phụ nữ trên tivi. Họ ăn mặc sang trọng đúng thời trang. Nếu Anna có một cái nghề được ăn mặc như thế thì Anna cũng sẽ đi làm suốt đời chứ không chịu về hưu đâu.

Sáng nay thấy trên tivi, có một người phụ nữ tự tử bằng cách lao đầu vào xe lửa. Con gái của cô ấy và con gái của Anna học chung một lớp. Mổi buổi sáng chờ xe buýt đến đón con đi học Anna thường gặp người phụ nữ này. Họ ở cùng khu chung cư nhưng ở một building khác. Đứa con bị người mẹ nắm chặt tay cố vùng vẫy khi xe lửa đến nhưng không thóat được. Nghe nói rằng gia đình cô không được hạnh phúc, quá tuyệt vọng nên cô hành động điên rồ. Anna nghĩ rằng dù tuyệt vọng, dù làm mẹ, người phụ nữ này không có quyền tước đoạt sự sống của đứa con.

Anna nghĩ ông không nên lo sợ phải về hưu. Về hưu đâu có nghĩa là ông phải ở nhà hết ngày này sang ngày khác. Ông có thể đi du lịch. Ông có thể học thêm một sở thích gì đó như chụp ảnh, đánh cờ, đọc sách, hay viết văn. À sao ông không viết văn nhỉ? Anna thấy ông có khiếu văn chương lắm đó.

Mong ông có buổi tối yên lành. Hôm nay Anna kèm thêm món chè đậu mắt đen nước dừa. Ông ăn ngon nhé.

Đầu bếp

Anna

  1. Ông viết “thư thì mỏng…” là có ý gì? Tại sao lại bỏ lửng?

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Anna thân mến,

 

Như thế thì cô là di dân. Di dân thường thì giàu có hơn tị nạn. Hơn ba mươi năm trước tôi bước lên đất nước này với thân phận của người dân tị nạn. Từ lúc nào tôi trở thành di dân? Có lẽ từ lúc tôi nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Tôi có người bạn thích đi du lịch. Anh ấy thăm viếng Kyoto, cố đô của Nhật Bản nhiều lần, bảo rằng thích đời sống của thành phố ấy, có cảm giác thành phố Kyoto là của anh, và anh là dân Kyoto từ tiền kiếp.

Tôi vẫn tự hỏi mình sống bao lâu ở một thành phố thì có thể xem thành phố ấy là của mình, quốc gia ấy là quốc gia là quê hương của mình? Thời gian tôi sống ở nơi nầy đã dài hơn thời gian tôi sống ở Việt Nam, không hiểu tại sao tôi vẫn không cảm thấy nơi đây, thành phố này, là quê hương xứ sở của tôi. Và đáng buồn hơn tôi cũng không còn cảm thấy Việt Nam là quê hương của tôi nữa. Tôi có cảm giác xa lạ, thất lạc, với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Ngôi nhà tôi đang ở là nhà của tôi. Khi đi xa tôi vẫn muốn quay về nhà. Người ta vẫn thường dùng hai chữ đi kèm, nước nhà (hay quốc gia). Tôi có nhà mà không có nước. Quê hương tôi ở không hẳn là quê hương của tôi. Còn cô, cô có nhận nơi này là quê hương?

Có lẽ cô nên cho cháu bé đến gặp counselor của trường. Có bạn qua đời trong trường hợp như thế là một chấn động tâm lý có thể tổn thương lâu dài. Tôi tự hỏi tại sao người ta dám chết mà không dám sống. Trong chuyến vượt biển của tôi, cái chết ngay trước mặt, đói khát nhiều ngày chúng tôi vẫn cứ ôm hy vọng được cứu và được sống. Chúng tôi chống chọi với cái chết trong từng cái chớp mắt, từng hơi thở gấp. Sống trong nguy ngập đến tính mệnh vẫn cứ muốn sống. Còn người phụ nữ kia sao lại bẻ một ngọn đời xanh vứt vào đầu máy xe lửa như thế. Thật đáng thương mà cũng đáng trách.

Cấp trên của tôi lại gọi tôi vào văn phòng hỏi tôi có ý định về hưu không. Tôi bảo rằng để tôi suy nghĩ. Có những buổi sáng đi làm sớm, mùa đông tôi nhìn những hàng cây trụi lá trong sương mù chạy hun hút trên con đường. Khi về hưu chắc là tôi sẽ nhớ những hình ảnh như thế. Cửa sổ phòng làm việc của tôi ngó ra một con sông. Vắt ngang sông là một chiếc cầu quay sơn màu xanh nhạt. Buổi sáng mặt trời mọc ánh sáng chiếu lên cây cầu và dòng sông, màu hồng nhạt tím nhạt màu cam màu vàng rất đẹp. Tôi nhìn cây cầu mỗi ngày và nghĩ khi về hưu tôi sẽ không còn nhìn thấy cây cầu này nữa. Thật buồn cười, tôi sẽ nhớ quang cảnh chung quanh chỗ tôi làm rất nhiều nhưng tôi sẽ không nhớ những người đồng nghiệp. Có lẽ đúng như lời người ta nói, tôi là người xa cách và lạnh lùng, không muốn làm bạn với ai. Có lẽ người vợ hai ngày của tôi không chịu nổi tính lạnh lùng của tôi. Còn tôi suốt đời sống một mình cứ tưởng không cần bạn bè bây giờ bỗng dưng thèm có người trò chuyện.

Hôm nay tôi “nói” nhiều, mà lại nói với một người tôi chưa hề biết mặt. Mong Anna tha lỗi. Và nếu cô không có thì giờ xin cứ ném thư đi. Nhưng nếu cô có lòng nuôi bao tử của tôi, xin làm ơn nuôi thêm cái trí óc cằn cỗi của tôi, và viết cho tôi vài hàng nhé. Tôi mong được đọc thư cô còn hơn mong thức ăn nữa cơ.

 

Khách hàng quí của cô

 

An

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm

Ông An thân mến,

Anna vẫn còn suy nghĩ đến người phụ nữ tự tử và đứa con. Ngày mới lập gia đình, Anna thắm đẫm trong tình yêu và hạnh phúc không hề nghĩ đến ngày mình phải bấu víu vào sự đùm bọc hay thương hại của kẻ khác. Bảy năm về trước chắc là Anna không hiểu được sự sợ hãi và tuyệt vọng của người phụ nữ đến độ tự tử và bắt đứa con phải chết theo cô ấy. Đó là một người phụ nữ có thể nói và nghe được, có học, có bạn bè, sống ngay trên xứ sở của cô ấy. Còn Anna chẳng có ai ngoại trừ chồng và đứa con. Anna mặc áo đẹp, thay áo ngủ sexy nói bằng sign language là Anna muốn được yêu, và có thêm đứa con nữa. Tuy nhiên anh ấy từ chối và sẵn dịp thú nhận đã hết yêu Anna. Anh ấy có người yêu mới, một người làm việc chung với anh.

Trước khi lấy chồng và có con, Anna rất thích du lịch. Anna thích những nơi chốn xa lạ Anna chỉ có thể tưởng tượng. Ông đã xem phim The Wind Journeys chưa? Anna thường mượn phim của thư viện địa phương, và chỉ xem được phim có caption cho người khiếm thính. Ông hãy xem phim này để thấy vẻ đẹp của những quốc gia vùng Nam Mỹ. Phim nói về cây đàn phong cầm, bên trên có chạm cái đầu của quỷ Satan. Người giữ cây phong cầm phải đem trả cây phong cầm này cho một tu sĩ trên ngọn núi cao ở một vùng núi hẻo lánh. Ông ta và người đồ đệ đã mang cây phong cầm đi qua 80 địa danh nổi tiếng đẹp về phong cảnh thiên nhiên. Anna đã nhiều lần mơ ước được ngồi trên một đỉnh cao giữa núi rừng xanh thẳm bạt ngàn, hay ngồi bên bờ suối đá nghe dân bộ lạc thổi tiêu. Anna nghĩ rằng sẽ cùng chồng nuôi con đến lớn khôn và sẽ cùng chồng đi chu du như vậy. Một trong những cái đặc biệt của du lịch là ông có thể không là ai hết, chỉ là một khuôn mặt vô danh trong muôn vàn khuôn mặt vô danh. Hay ông có thể tiêu hết cả tiền dành dụm hàng chục năm để tưởng tượng mình là một người triệu phú.

Ông có lần kể về một người bạn của ông yêu thích Kyoto đến độ muốn qua bên ấy ở luôn. Anna cũng thích Kyoto như vậy. Anna xem rất nhiều phim về Nhật Bản, về geisha, về samurai. Anna đọc hầu hết những quyển sách du hành về Nhật Bản. Ông có biết thiền sư Basho đi một vòng phía Bắc Nhật Bản, và sau này người ta có giả thuyết ông là người do thám cho một sứ quân thời bấy giờ đang muốn triệt hạ một sứ quân khác không. Nếu Anna có điều kiện Anna sẽ đi Nhật.

Anna cũng muốn viếng thăm Bhutan. Người phụ nữ đã tự tử có lần cho Anna mượn mấy quyển sách về Bhutan, một xứ sở đo lường sự giàu có của quốc gia bằng chỉ số hạnh phúc. Anna nghĩ nếu Anna đặt chân lên quốc gia này Anna sẽ xin được ở lại và nhận Bhutan làm quê hương. Nếu ông sợ đi máy bay thì không nên đến Bhutan, vì phi đạo của xứ này rất nhỏ, rất ngắn, ở một vị trí rất hiểm trở, chỉ có khoảng mười phi công đủ tài lên xuống phi đạo này. Và xin giấy nhập cảnh Bhutan nghe nói cũng nhiêu khê lắm.

Nói như vậy để ông thấy rằng, cuộc đời không chấm dứt sau khi hết đi làm việc. Mong ông vui khỏe, và hãy suy nghĩ thêm về việc về hưu. Phải nói là khi ông về hưu và đi du lịch thì Anna sẽ rất buồn vì không còn người thuê Anna nấu ăn và đọc những dòng tâm sự của Anna. Đó là chuyện tương lai, còn bây giờ Anna phải suy nghĩ và quyết định, nếu chồng Anna cương quyết ly dị thì Anna sẽ ở đâu, làm gì để nuôi con. Dĩ nhiên người chồng sẽ trợ cấp nhưng có lẽ chẳng thấm vào đâu. Và căn nhà thì anh ấy mua trước khi cưới Anna nên nếu anh ấy không cho Anna ở thì Anna sẽ phải dọn ra.

Chúc ông ngủ ngon, và hy vọng món chè chuối với bánh cuốn nhân thịt hôm nay vừa miệng ông.

Đầu bếp trung thành của ông

Anna

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

 

Anna thân mến,

 

Nghe lời cô, tôi đã mạnh dạn xin về hưu. Tôi chỉ cần thông báo trước hai tuần hay một tháng, tuy nhiên cấp trên của tôi có vẻ đã sẵn sàng. Tôi chưa nộp giấy tờ thì đã thấy có người dự đoán sẽ thế chỗ tôi vào học việc với tôi. Tôi nghĩ nếu người ta không muốn giữ tôi nữa thì tôi cũng chẳng muốn ở lại làm việc. Việc làm chắc cũng giống như tình yêu, không thể cứ yêu một chiều mãi mãi. Phải không cô? Tôi cũng tự thấy mình mệt mỏi. Trên chuyến xe lửa về nhà buổi chiều đông người tôi phải đứng. Tôi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trên kính cửa sổ, lưng đã còng, tóc bạc trắng, và cặp kính trắng dày cộm làm tôi trông giống như một con cá thòi lòi. Một cậu bé đứng dậy nhường chỗ cho tôi, bảo rằng xin bác ngồi cháu còn trẻ để cháu đứng.

Tôi sẽ đi du lịch Nhật Bản, Bhutan, và Chile, để tận mắt ngắm những quốc gia này thay cô, nhưng trước khi đi tôi muốn cô giúp tôi một vài việc. Ngôi nhà tôi đang ở chẳng to lớn gì, chỉ là hai cái toa xe lửa cũ tôi mua về sửa sang thành chỗ ở. Tiền thuế đất rất thấp, điện nước cống nhà vệ sinh hẳn hoi. Đồng nghiệp của tôi thường nói bóng gió lương cao, không vợ không con, ở căn nhà bằng hai toa xe lửa, tiền chất đầy nhà băng mà không chịu về hưu.

Khoảng mười năm trước tôi là kỹ sư trưởng của một nhóm kỹ sư. Vì tôi ít nói, dễ dãi trong việc kiểm tra nhân viên, nên người phụ tá lộng hành, thuê người bổ nhiệm người một cách vô trách nhiệm. Nghe nói ông ta lạm dụng tiền quỹ sao đó. Tôi chỉ chú ý đến kỹ thuật và an toàn của thiết kế và xây dựng các đồ án. Tuy nhiên khi việc đổ bể tôi vẫn phải chịu sự trừng phạt của công ty vì tôi không làm tròn trách nhiệm quản lý. Người ta đuổi việc nhân viên của tôi, còn tôi thì chỉ bị giảm chức vụ. Nếu là người khác thì người ta đã bỏ việc về hưu sớm, tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục làm việc. Nếu người ta để tôi đi làm không trả lương tôi cũng chịu, bởi vì ở nhà chắc tôi sẽ gục xuống chết ngày hôm sau vì nhàm chán và cô đơn.

Tuy nhiên, bây giờ cô đã thay đổi ý nghĩ của tôi. Tuy không giàu, nhưng tôi giỏi quán xuyến tiện tặn, đi chơi kiểu hà tiện tôi có thể đi vài năm không về nhà.

Tôi đi chơi xa, do đó không thể thuê cô nấu ăn, nhưng tôi muốn nhờ cô làm quản gia cho tôi. Nếu cần thiết, cô có thể mang con đến ở nhà tôi trong lúc tôi đi vắng. Tôi sẽ liên lạc với cô bằng thư từ qua địa chỉ nhà tôi. Có người ở trong nhà đề phòng hư hại hay trộm cắp. Mọi chuyện khó khăn cô cứ liên lạc với người bạn của tôi. Ông V. là bạn cũng là luật sư lâu năm của tôi. Ông có thể cố vấn cho cô nhiều vấn đề, chuyện nhỏ nhặt như thuê người sửa chữa đồ dùng trong nhà, chuyện lớn như ly dị hay giúp đỡ người có thu nhập kinh tế thấp muốn được trợ giúp về mặt pháp luật. Ở đây mấy chục năm tôi biết là người ta chỉ có thể đến với công lý hay được đối xử công bằng khi có tiền. Tôi đã yêu cầu ông giúp đỡ và hướng dẫn cô. Tôi đã mở sẵn một tài khoản ngân hàng, để trả lương cho cô. Tiền lương này, ngoài việc trông chừng nhà cho tôi, còn kèm theo tiền săn sóc con mèo (bốn chân) của tôi. Tôi nuôi nó cả chục năm nay. Nếu tôi có bao giờ yêu thương một người nào đó chắc cũng chỉ bằng với yêu thương con mèo này. Tôi ngại ngần chuyện đi du lịch cũng chỉ vì không ai săn sóc Nora. Tôi có linh tính cô là người kiên nhẫn và yêu thương thú vật. Thật tình, tôi có thể gửi con mèo cho một cơ quan nuôi thú vật, nhưng tôi muốn Nora được chăm sóc và thương yêu như một người bạn nhỏ của tôi.

Tôi có computer cô nên tìm cách học, bắt đầu ở thư viện người ta thường có lớp miễn phí. Cô cũng có thể nấu ăn cho một vài người nhưng nhiều hơn thì bếp nhà tôi không đủ sức.

Chúc cô vui khỏe và mong rằng ngày tôi trở về hoàn cảnh của cô sẽ khá hơn.

 

Bạn của cô

An

 

Có lần cô hỏi về “thư thì mỏng…” mà tôi quên trả lời. Đó là câu thơ tôi quên tên tác giả. “Thơ thì mỏng như suốt đời mộng ảo. Tình thì buồn như tất cả chia ly.” Những lá thư qua lại giữa chúng ta có thể chẳng đi đến đâu. Nhưng tôi muốn giữ một tình bạn giữa tôi và cô. Người ta không tin là có tình bạn giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng tôi thì tin. Tại sao không?

Dựa theo phim “The Lunchbox” của Đạo diễn Ritesh Batra

Đường hầm

Tôi đi trên con đường ở một vùng núi non hẻo lánh. Trời đang mùa thu, cây cối khô héo và bầu trời ảm đạm. Trên sườn núi xa xa, có phủ một lớp tuyết mỏng. Đường đi ướt át lầy lội. Nước đọng thành vũng ở một vài nơi; có lẽ do tuyết tan. Khi thả tôi ra người ta trả lại bộ đồ tôi mặc lúc trước khi bị bắt. Tước bỏ huy hiệu và chức vụ, tôi vẫn còn đôi ủng, cái mũ kết, và nhất là cái áo khoác trây di khá tốt. Cái “náp sắc” khoác vai trong đó có vài thứ đồ dùng cần thiết và một ít tiền lẻ (tôi ngạc nhiên là người ta không tịch thu) khiến tôi giống một chàng trai trẻ du hành theo kiểu nghèo hơn là một quân nhân.

Trước mặt tôi là một đường hầm tối thăm thẳm. Không biết chỗ này ở đâu, tên làng là gì,  và từ bao giờ người ta xây được một cái đường hầm bê tông kiên cố như thế. Cứ nghĩ mình phải đi xuyên qua đường hầm tối tăm này đã khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống, nhưng tôi không thể không đi. Sau lưng tôi là chặng đường hoang vắng, không hàng quán nhà cửa. Tôi cũng đã đói lắm rồi, cần tìm chỗ ăn và tạm trú qua đêm. Tôi không thể quay lại nên đành phải đi tới. Vắng vẻ đến nỗi không có cả tiếng chim hay tiếng côn trùng. Bước chân tôi khua vang như tiếng trống.

Cộp! cộp! cộp!

Tiếng chân tôi gõ đều trong im vắng. Thình lình, có tiếng chó tru từ xa. Từ trong bóng tối lao ra một con chó thật hung dữ. Con chó này không phải loại chó thường mà là loại chó được dùng để ra trận. Nó có mặc một cái áo nịt. Phủ xuống hai bên sườn của nó là túi dụng cụ chứa chất nổ dùng để chống chiến xa. Ánh sáng nhá nhem của cái đèn đỏ gắn ở đầu đường hầm chiếu xuống làm con chó ánh lên một màu đỏ như nhuộm máu. Con chó rất hung dữ. Bộ răng nanh của nó khiến nó giống quỷ hơn là giống chó nhà người ta nuôi và rất yêu mến. Nó gầm gừ, dường như muốn xé xác tôi ra thành những mảnh vụn. Tôi không có gì để tự vệ nếu cần phải đánh nhau với con chó; vì vậy tôi chỉ thủ thế, không cử động đột ngột khiến nó nghĩ là tôi tấn công. Tôi nhẹ nhàng bước lui, từ từ rời xa nó, có nghĩa là dấn bước sâu hơn vào đường hầm. Rất may, con chó không đuổi theo mà ngồi trấn ở ngay đầu đường hầm như ngăn chận không cho tôi trở ra.

Càng đi đường hầm càng tối, tiếng chân tôi càng vang to, át hẵn tiếng tim đập của tôi. Tôi muốn tìm đường về nhà, về quê hương, nhưng chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà. Đường vào địa ngục có lẽ cũng chỉ hoang vu đến như thế này thôi.

Bùm! Bùm! Bùm! Tiếng gót giày của tôi nện trên nền đường bê tông. Mười bước. Hai chục bước. Rồi trăm bước. Đường hầm dài như vô tận. Càng đi càng thấy lạnh, có lẽ do thiếu ánh sáng lâu năm. Cũng có thể là do âm hồn lẩn khuất đâu đây. Hơi thở tôi biến thành đám khói mờ trước mặt. Hơi nước đọng cả lên mi mắt tôi. Tôi đi như người mù cứ hướng phía trước mặt mà bước.

Rồi tôi cũng ra khỏi đường hầm. Trước mặt tôi là một vũng sáng lờ mờ. Mặt trời đã bắt đầu khuất bóng chỉ còn lại ánh sáng chạng vạng. Thứ ánh sáng của hai vùng âm dương giao nhau.

Tuy không phải là người nhát gan, nhưng phải nói là từ lúc bước vào đường hầm tôi luôn luôn thủ thế, bước chân chậm rãi vì dè dặt. Tôi luôn luôn liếc nhìn ở hai bên và thỉnh thoảng quay về phía sau lưng nghe ngóng. Tôi linh cảm là có một điều gì đó sẽ xảy ra.

Rồi tôi nghe, từ sau lưng, trong bóng tối thăm thẳm của đường hầm. Ban đầu nhỏ sau lớn dần. Tiếng bước chân. Độc hành, giống như tôi. Khi tôi ngừng lại lắng nghe thì tiếng bước chân im bặt. Mình chỉ tưởng tượng thôi. Tự nhiên sao mình lại đâm ra nhát cáy như thế này. Tôi tiếp tục bước đi xa đường hầm. Tiếng chân lại vọng ra, như đang bước theo tôi. Tôi dừng lại. Tiếng bước chân nhanh hơn, rõ hơn. Từ trong bóng tối bước ra một người. Bóng người rõ dần. Tôi giật mình, thảng thốt.

“Noguchi!”

Anh lính, binh nhì, đang bước mạnh dạn, thấy tôi vội vàng buông súng, đứng nghiêm. Chào.

“Xin chào. Đại úy!”

Giọng anh ta sang sảng như vẫn còn đang ở trong hàng ngũ quân đội.

“Cậu đã…”

“Thưa Đại úy, em đã… Có phải em đã chết trong khi chiến đấu hay không?”

Noguchi bước đến gần tôi. Tôi sợ hãi lùi lại. Noguchi đứng đó, hình hài nguyên vẹn nhưng da anh ta trắng bệch, đôi mắt là hai hố đen ngòm, dáng vẻ của một xác chết biết đi. Tôi lùi thêm hai ba bước. Noguchi lại bước tới. Giọng của anh ta đầy vẻ uất ức.

“Em không thể tin là em thật sự đã chết. Em đã được giải ngũ và về đến nhà. Em ăn bánh nếp mẹ em làm dành riêng cho em. Em nhớ rõ ràng như thế.”

Anh ta bước tới, nói như hét. Tôi lại bước lùi xa hơn, bị dí vào chân tường của đường hầm. Khi không còn thể lùi được nữa, tôi cố lấy giọng bình tĩnh nói chuyện với Noguchi.

“Cậu đã kể tôi nghe chuyện này. Cậu bị bắn, và cậu ngất xỉu. Trong lúc tôi đang săn sóc vết thương cho cậu thì cậu tỉnh dậy rồi cậu kể chuyện được ăn bánh của mẹ làm.”

Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, Noguchi hơi nghiêng nửa thân người phía trên về hướng của tôi, chăm chú lắng nghe.

“Đó chỉ là giấc mơ cậu thấy trong lúc bị bất tỉnh. Câu chuyện nằm mơ của cậu sống động quá gây ấn tượng thật mạnh nên tôi không thể nào quên. Nhưng chỉ năm phút sau đó cậu trút hơi thở cuối cùng.”

Noguchi đứng thẳng người, trong tư thế báo cáo, dõng dạc nói:

“Em hiểu rồi. Đại úy! Nhưng bố mẹ em vẫn không chịu tin là em đã chết.” Nói dứt câu cậu binh nhì mím môi như muốn khóc.

Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời. Các sớ thịt trên mặt tôi co giật mạnh. Noguchi nhấc nhẹ súng lên, hai tay ôm súng vào ngực, hướng về phía núi xa xa, bước thẫn thờ về phía bên phải của anh ta, hai hố đen ở vùng mắt có ánh sáng lấp lánh.

Phía trước tầm nhìn của Noguchi, có ánh đèn thấp thoáng, chắc là của một làng sơn cước nào đó. Quay lại đối diện với tôi, tay chỉ về hướng ánh đèn, vẻ mặt thiểu não, giọng Noguchi thiết tha:

“Chỗ ấy là nhà em. Bố mẹ em ở nơi ấy vẫn hằng tin và mong chờ em về.”

Noguchi nghẹn ngào. Tôi bước đến gần. Chúng tôi đứng cách nhau không đầy một sải tay. Bóng lá của cây rừng phất phơ trong gió. Tôi lạnh, không biết vì gió thu hay hơi sương. Hay hơi lạnh của tử khí bốc ra từ Noguchi. Ánh mắt cậu ta như dại hẳn đi.

“Nhưng, sự thật là cậu đã chết. Tôi rất là đau lòng dù rất vụng về tôi vẫn phải nói sự thật. Cậu đã chết trên cánh tay tôi.”

Môi Noguchi run bần bật, cố kềm tiếng nấc. Cậu quay nhìn tôi bằng một vẻ thê lương tôi không thể nào tả được. Tôi nghĩ chỉ cần tôi đưa tay ra là cậu ấy sẽ ôm chầm lấy tôi và khóc trên vai tôi. Tay ghì cây súng Noguchi nhìn về hướng làng. Mím môi. Cúi đầu. Noguchi quay người hướng vào bóng tối trong đường hầm. Bộ quân phục, phía sau lưng của Noguchi vẫn còn đẫm vết máu. Noguchi thất thểu lê bước. Tôi gọi vọng theo.

“Noguchi.”

Noguchi quay lại bồng súng chào.

Tôi ném cái náp sắc xuống đường. Giơ tay ngang vành mũ chào đáp lễ. Noguchi buông súng xuống. Sự im lặng giữa hai chúng tôi dài như hằng tiếng đồng hồ. Noguchi quay đi, tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Noguchi mờ nhạt dần, khuất xa trong bóng tối.

Tiếng chân của Noguchi chưa mất hẳn thì tiếp theo là tiếng bước chân sầm sập của một đoàn quân sắp hàng như chuẩn bị lên đường ra trận. Tôi sợ hãi bước lùi mấy bước. Định thần nhìn cho kỹ đó là một đoàn quân xếp hàng ngang, mỗi hàng có sáu quân nhân, vừa đủ chật đường hầm. Tôi không biết có bao nhiêu hàng vì họ đứng khuất trong bóng tối của đường hầm. Theo mắt tôi có thể nhìn được thì toàn thể đại đội này đang sắp hàng có ít nhất là chín hàng, nghĩa là năm mươi bốn quân nhân cộng thêm người đại đội trưởng.

Đại đội trưởng cất giọng, quát to:
“Tất cả chuẩn bị. Chào Tiểu Đoàn Trưởng. Chào!”

Tất cả bồng súng lên chào. Đại đội trưởng giơ ngang thanh gươm chỉ xuống đất.

“Hạ súng! Xuống!”

Đại đội trưởng và tất cả quân nhân đều hạ súng đứng nghiêm.

“Đại đội Ba. Tất cả có mặt. Trình diện thượng cấp.”

Tôi nghẹn lời, nước mắt chực trào ra.

“Tất cả các bạn hãy nghe tôi nói!”

Tôi cố nuốt nước mắt.

“Tôi hiểu lắm. Suy nghĩ và cảm giác của các bạn. Tuy nhiên, toàn thể Đại đội Ba đã gục ngã trên chiến trường. Xin các bạn hãy tha thứ cho tôi. Tôi đã bảo toàn mạng sống của tôi. Tôi rất hổ thẹn đến độ không thể nhìn thẳng vào mắt các bạn, vì tôi đã không hoàn thành trách nhiệm bảo vệ sinh mạng của các quân nhân tùy thuộc quyền chỉ huy của tôi. Tôi có thể đổ thừa vào sự phi lý của chiến tranh hay sự nhẫn tâm của quân đội. Nhưng chối bỏ, lỗi lầm, sự do dự không dám quyết định, hay quyết định không chính xác của tôi, là một hành động hèn nhát.”

Tôi hít một hơi dài, cố nén cơn đau trào ra từ trái tim. Tôi đứng nhưng thật ra tôi muốn quì xuống trước mặt những người đã chết. Xin tạ tội. Và bày tỏ lòng kính phục sự hy sinh của họ.

“Tôi bị kẻ địch bắt, bị cầm tù. Đời sống trong tù đã cho tôi nếm đủ đòn đau đớn, cũng gần như cái chết. Và. Bây giờ. Khi tôi nhìn các bạn tôi lại trải nghiệm lần nữa những điều đau đớn ấy.”

Nước mắt tôi trào ra và chảy xuống mũi. Tôi nói để lấp đi tiếng nấc.

“So với cái chết của các bạn nỗi đau của tôi thật quá tầm thường. Nhưng tôi thành thật nói với các bạn điều này. Tôi ước gì. Tôi đã cùng chết với các bạn. Xin hãy tin tôi khi tôi nói những lời này. Tôi thông cảm với những oán hờn của các bạn. Chết trong trận mạc là cái chết tồi tàn như cái chết của loài chó! Nhưng xin hãy nghe tôi. Chẳng có gì tốt đẹp khi các bạn trôi lang thang vô định trong cuộc sống của loài người. Tôi van xin các bạn. Hãy quay lại. Quay về với bóng tối và an nghỉ muôn đời.”

Tôi đứng thẳng người, chỉnh đốn tư thế và quân phục. Rồi tôi dõng dạc ra lệnh.

“Đại đội Ba! Đằng sau! Quay!”

“Đằng trước! Bước!”

Đoàn quân sầm sập bước vào trong đường hầm. Tiếng kèn nhạc quân hành đâu đó trổi lên. Vang vọng. Xa dần. Khuất hẳn. Tôi đứng nghiêm chào cho đến khi đoàn quân và tiếng kèn không còn nghe thấy nữa. Tôi kiệt sức, phủ phục người trên mặt đất. Cơn đói ban chiều trở lại hành hạ tôi. Đêm càng khuya trời càng lạnh. Nếu tôi không đứng dậy đi tiếp tôi sẽ nằm xuống đây muôn đời.

Con chó quỷ bây giờ lại xuất hiện. Nó nhe răng, đỏ thẫm màu máu, có lẽ nó đang đói cần ăn thịt người. Tôi không biết đây là con chó thật sống sót sau chiến tranh, hay nó chỉ là một hồn ma không siêu thoát. Tại sao nó cứ theo sủa tôi, như sủa một tên trộm cướp, một kẻ hèn nhát. Người ta bảo rằng chó sủa ma; thế nhưng bao nhiêu oan hồn không siêu thoát xuất hiện lúc nãy nó chẳng kêu lên tiếng nào, mà bây giờ nó lồng lộn chực chờ xé xác tôi.

NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn “The Tunnel” trong tập phim Akira Kurosawa’s Dreams (Những Giấc Mơ của Akira Kurosawa). Đoạn phim youtube trên đây chỉ là phần cuối của đoạn phim. Rất tiếc là có rất nhiều đoạn giấc mơ của đạo diễn Kurosawa đã được upload lên youtube nhưng tôi không tìm được đoạn phim Tunnel đầy đủ, có vẻ như người xem không thích hay không chú ý đến đoạn phim này. Theo tôi đây là đoạn phim cảm động nhất trong tập phim.

Làng Có Cối Xay Nước

Trời xuân nắng vàng rực, khá ấm. Men theo con đường mòn, lần theo tiếng nước chảy róc rách, quẹo phải quẹo trái đôi ba lần tôi lạc vào một ngôi làng nhỏ bên suối. Con suối khá rộng, trong suốt, và có rất nhiều rong lả lơi theo dòng nước chảy mạnh. Bắc ngang con suối là chiếc cầu gỗ, đơn sơ nhưng chắc chắn. Bên kia cầu có dăm ba căn nhà, mái rạ, vách gỗ, nhỏ nhắn nhưng cứng cáp và sạch sẽ. Chung quanh nhà, dọc theo bờ suối, hay ở những hòn đảo nhỏ giữa dòng suối, chỗ nào cũng có hoa nhiều màu rực rỡ. Đỗ quyên màu tím và hồng, diên vỹ nước màu vàng, babybreath màu trắng li ti nở khắp nơi. Suối rộng, có chỗ cạn chỗ sâu. Ở những chỗ sâu, được dựng lên nhiều guồng bánh xe, chạy bằng sức nước chảy. Bánh xe quay kéo theo cỗ máy bên trong, dùng để xay lúa, thóc, làm thành gạo, hay bột. Người ta gọi đơn giản là cối xay nước.

Tôi đi thong thả, qua chưa hết cầu, bên kia bờ có một đám trẻ em đang nô đùa, chạy dọc theo dòng suối. Khi tôi đến gần cuối cầu thì các em cũng vừa chạy đến. Mỗi trẻ em cúi người hái vài đóa hoa mọc ven đường đến đặt vào một phiến đá gần bên cầu. Một chú bé dường như quên đã chạy xa rồi quay trở lại hái một đóa hoa vàng đặt lên tảng đá rồi lại chạy theo các bạn. Phiến đá này ở phía trên một mô đất cao. Chân cầu chỗ tôi đứng thấp hơn phiến đá một chút. Bước chân mạnh của các em làm rung nhẹ đoạn cầu nơi tôi đang đứng. Thấy tôi các em chào “Thưa anh!” Các em vẫn còn ăn mặc theo kiểu người sơn cước, vải thô màu sậm dệt bằng tay, chân đi dép cỏ hay giày vải. Da các em rám nắng hồng hào khỏe mạnh.

Ông cụ ngồi sửa bánh xe cối xay nước trước nhà. Tôi chào.

“Chào cụ ạ!” Ông cụ mải mê làm việc chẳng nghe. Tôi lập lại, giọng to hơn. Lần này ông ngẩng đầu lên.

“Chào cháu!”

Ông đội mũ rơm còn mới, có cột dây màu đỏ. Da cụ đen xạm, nét rắn rỏi. Cụ mặc áo vải màu xanh nhạt gần giống như màu vải quần jean nhưng đây là loại vải dệt bằng tay. Râu và chân mày cụ bạc trắng như những ông tiên trong tranh. Dọc theo con suối có độ chục căn nhà, nhà nào cũng có cối xay nước.

Tôi lân la gợi chuyện.

“Làng này tên gì vậy cụ?”

Ông chậm rãi trả lời.

“Làng không có tên.” Ngừng giây lát, ông nói tiếp:

“Chúng tôi chỉ đơn giản gọi là ‘làng.’ Nhưng người sống ở ngoài làng, gọi chúng tôi là ‘Làng Có Cối Xay Nước.’ ”

Tôi nhìn chung quanh rồi nhìn vào bên trong nhà. Từ ngoài cửa nhìn vào, giữa nắng, bên trong nhà tối om. Gần bên cửa, treo lủng lẳng trên kèo nhà là một cái đèn dầu. Tôi hỏi:

“Người trong làng đều sống gần nhau cả, phải không thưa cụ?”

“Chúng tôi sống rải rác khắp nơi.”

Ông cụ trả lời nhưng vẫn chăm chỉ làm việc. Từ cổ tay đến hết bắp tay nhưng chưa đến khủyu tay ông có mặc một lớp vải màu sậm, như một loại găng tay, để chống trầy xước khi cụ sửa cỗ bánh xe gỗ của cối xay nước. Xem chừng ông không mấy hứng thú đưa chuyện, tuy thế tôi hỏi đến đâu thì cụ trả lời đến đấy. Thấy cái đèn dầu gần cửa ra vào, tôi hỏi:

“Làng mình không có điện, thưa cụ?”

Ông cụ ngước lên nhìn một thoáng lại cúi xuống với cái bánh xe, hí hoáy cột dây bện.

“Chúng tôi không cần những thứ ấy.” Ông nói chậm rãi từng câu, như nói một mình.

“Người ta dễ bị quyến rũ bởi những cái tiện lợi. Họ nghĩ rằng, ‘càng tiện nghi càng tốt,’ thế rồi họ đâm ra bỏ rơi những thứ thật sự quí giá.

Tôi nhìn ông chăm chú, không tránh khỏi thắc mắc:

“Thế cụ làm thế nào để tạo ra ánh sáng?”

“Chúng tôi dùng nến, dùng dầu thô, dầu mù u, dầu hạt cải.”

“Ban đêm như thế sẽ tối tăm lắm, phải không cụ?”

“Ban đêm thì phải tối thôi. Chúng ta sẽ khó chịu lắm nếu ban đêm sáng như ban ngày. Tôi không thích ban đêm nhiều ánh sáng quá vì tôi sẽ không nhìn thấy trời sao.”

Tôi thầm nghĩ ông cụ xem chừng lãng mạn gớm, nhưng ông cũng có lý. Thời bây giờ, ban đêm ở thành phố đèn sáng choang. Người ta làm nghiên cứu bảo rằng ở những nơi ban đêm có nhiều đèn, tỉ lệ người bị bệnh ung thư rất cao. Trong khi ông cụ nói tôi nhìn ra xa, thấy đồng ruộng xanh tăm tắp.

“Cụ ơi, cháu thấy làng mình có ruộng nhưng sao không thấy máy cày máy gặt?”

“Chúng tôi không cần dùng những thứ ấy. Chúng tôi có bò và ngựa.”

“Thế cụ dùng nhiên liệu gì?”

“Chúng tôi dùng củi. Để nấu ăn và sưởi ấm.”

Ông cụ nói giọng thân thiện, trầm ấm, nhưng vẫn chăm chỉ làm việc, thỉnh thoảng mới ngước nhìn lên.

“Chúng tôi không thấy thoải mái khi phải đốn cây còn sống, tuy nhiên cây chết ngã cũng khá nhiều. Phần lớn chúng tôi dùng những cây đã chết để làm củi. Và nếu nhốt củi làm than thì chỉ cần vài cây chết thì cũng đủ sưởi ấm như cả cánh rừng. Ngay cả phân bò cũng có thể được dùng để đốt.”

Tôi cảm thấy thật thanh nhàn khi ngồi nói chuyện với ông cụ. Chim hót ríu rít khắp nơi. Trời trong xanh, nắng ấm áp, suối chảy róc rách êm tai. Ông cụ thong thả nói tiếp:

“Chúng tôi cố gắng sống tự nhiên, như người xưa đã sống. Thời bây giờ, chúng ta quên rằng loài người là một phần của thiên nhiên. Người ta không thể sống thiếu thiên nhiên vậy mà người ta vẫn xâm phạm và phá hủy thiên nhiên. Họ cho rằng họ có thể sáng tạo ra những thứ tốt đẹp hơn, nhất là các nhà khoa học. Có thể là họ rất thông minh, nhưng đa số họ hoàn toàn không biết lắng nghe nhịp đập trái tim của thiên nhiên. Họ đã vất vả phát minh nhiều sáng kiến chỉ khiến loài người thêm bất hạnh rồi tự vỗ lưng khen mình tài giỏi. Càng tệ hại hơn là phần lớn loài người xem những sáng kiến ngu ngốc này như là phép mầu rồi tuân phục chúng. Họ không thấy rằng thiên nhiên bị giết chết và loài người tiến dần đến chỗ tự hủy diệt. Những thứ quan trọng nhất cho loài người chính là không khí sạch và nước sạch, và các loài cây cỏ để giữ cho không khí và nước trong lành. Loài người làm ô nhiễm môi trường và nó sẽ biến mất mãi mãi. Không khí bẩn và nước bẩn sẽ làm ô nhiễm tâm hồn của con người.”

Tôi lắng nghe ông cụ độc thoại, mắt nhìn cảnh đẹp chung quanh. Hoa nở đủ thứ màu sắc khắp nơi. Trông hoa tôi chợt nhớ một điều.

“Thưa cụ, lúc mới đến cháu thấy các em bé hái hoa đặt lên phiến đá. Tại sao các em làm thế?”

“Ồ, cái đó hả? Tôi nghe ông bố tôi, cụ đã qua đời, kể lại là…”

Lúc nãy tôi đã đứng lên, định tiếp tục đi thăm làng, nghe giọng ông cụ, tôi đoán là câu chuyện chắc là thú vị, nên ngồi xuống nghe tiếp.

“Hồi xưa, lâu lắm rồi, có một du khách đi ngang làng. Ông ta bệnh và chết ở bên bờ suối, ngay chỗ có phiến đá. Người làng thấy tội nghiệp nên chôn cất tử tế. Họ đặt phiến đá làm mộ bia và dâng cúng hoa. Lâu ngày điều này trở thành phong tục của làng. Không phải chỉ có trẻ em dâng hoa, ngay cả người lớn mỗi khi đi ngang cũng dâng hoa, dù lâu ngày chẳng mấy ai còn hiểu tại sao lại làm như thế.”

Ông lão xoay xoay bánh xe của cối xay nước, có vài chỗ gỗ bị hư ông thay thế bằng ống tre. Xa xa có tiếng nhạc rộn ràng. Tôi hỏi:

“Hôm nay trong làng có lễ hội gì đấy cụ?”

Ông lão lấy tay khum ở sau vành tai, cố gắng lắng nghe, rồi trả lời:

“Lễ hội gì đâu. Đám tang đấy. Chắc là cháu ngạc nhiên và cho là kỳ quái, nhưng đám tang ở đây là một ngày hội vui.”

Tôi nhìn lảng sang chỗ khác sợ bị cho là vô lễ, nhưng quả tình ông đoán trúng ý nghĩ của tôi. Ông cụ giải thích:

“Chúng ta nên sống cho đáng, làm việc chăm chỉ, sau đó tự khen mình đã làm việc tốt. Làng chúng tôi không có chùa chiền nhà thờ hay tu sĩ, vì thế dân làng cùng nhau đưa người chết lên nghĩa trang trên đồi. Dĩ nhiên nếu người chết là trẻ em thì là chuyện khác. Chúng tôi không thể xem đó là chuyện vui. Nhưng cũng may là người làng chúng tôi thường chết già, ai ra đời trước đi trước. Bà cụ qua đời hôm nay qua đời yên lành ở cái tuổi ngót nghét một trăm.”

Ông đứng dậy.

“Cháu nói nên tôi mới nhớ. Tôi phải đi dự đám tang. Cho tôi xin kiếu nhé”

Chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa, cụ quay sang mỉm cười nói với tôi:

“Nói thật với cháu, bà ấy là mối tình đầu của tôi. Nhưng bà đạp nát trái tim tôi bằng cách đi lấy người khác.”

Ông đi vào nhà, nét mặt vẫn vui tươi, vừa đi vừa ngâm nga trong cổ một điệu nhạc vui nhộn. Tôi hướng về nơi có tiếng nhạc càng lúc càng đến gần. Nghe sau lưng có tiếng nhạc tôi quay lại. Ông cụ đã thay trang phục. Phủ bên ngoài lớp áo màu xanh lam như vải jean là một cái áo khoác, gần giống như cái tạp dề của các đầu bếp hay họa sĩ, màu đỏ tươi tắn. Chân của cụ cũng mang giày bện bằng vải, chung quanh ống chân cũng cột vải. Giày cũng cùng màu với áo khoác. Trông cụ như ăn vận cho một ngày lễ hội tưng bừng.

“Cho phép cháu hỏi cụ câu này, năm nay cụ được bao nhiêu tuổi?”

“Tôi à? Tôi được một trăm lẻ ba. Tuổi này phải nói là khá thọ cho loài người. Cháu thấy đó, loài người hay than phiền là cuộc sống quá khổ ải. Toàn là nói tướng lên cho sướng mồm. Thật ra, còn sống là điều rất tốt.”

Cụ cúi xuống ngắt một nhánh hoa đỗ quyên màu hồng thắm. Tay phải của cụ đang cầm một cái lục lạc, cụ lắc leng keng, tiếng nhạc thật vui tai. Tay trái cụ phe phẩy nhánh hoa theo tiếng lục lạc.

Đoàn đám tang đã đến rất gần. Ban nhạc đám tang thật lớn, nhiều kèn, nhiều trống, nhiều lục lạc. Tiếng kèn tuba hòa quyện với tiếng trombone nghe thật hùng hồn nhưng không thể che lấp tiếng tambourine. Sáu người khiêng một cái kiệu phủ tấm khăn kết bằng vải nhiều màu. Các cô gái trong làng đội mũ có kết hoa, áo đỏ, yếm đỏ, giày đỏ, tay cầm hoa, tay rung lục lạc, vừa đi vừa hát và nhảy múa. Trẻ em dẫn đầu đoàn người đưa tang, đi đến đâu các em rải hoa đến đó. Các chàng trai cũng ăn vận sặc sỡ, người ôm kèn, kẻ mang trống. Không ai ngờ rằng đây là một đám tang. Người trong làng Cối Xay Nước, khi sống cuộc sống đầy vẻ thanh bình. Khi chết, cái chết xem chừng cũng là một niềm vui, hạnh phúc.

Ông cụ chờ đoàn người đến gần rồi nhập cuộc. Cụ đi trước, vung vẩy hoa và lục lạc theo tiếng nhạc. Tôi đứng ngẩn người nhìn theo. Khi đám tang đi rồi tôi quay trở lại ra khỏi làng. Trước khi đi, chợt nhớ ra, tôi quay trở lại dâng một đóa hoa lên bia mộ.

Rồi tôi tỉnh giấc.

Ghi chú: “Tôi” trong bài là tên của nhân vật (hay Kurosawa) trong tập phim “Dreams of Kurosawa” (Những Giấc Mơ của Kurosawa) bao gồm nhiều đoạn phim ngắn. NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn tựa đề là “The Village of Watermills” (Làng Có Cối Xay Nước). Dịch là Cối Xay Nước (Watermill) để phân biệt với cối xay gió (windmills)

 

Một con Gà và hai con Công

Mệt mỏi, chán chồng con, và trên hết Gà Dầu sợ sẽ bị làm thịt vào dịp Tết nên trốn đi. Chị không biết đi đâu làm gì chỉ biết trước nhất là tìm sự bình yên cho thể xác. Sau đó chị hy vọng sẽ tìm được hạnh phúc cho tâm hồn. Không phải là gà có học thức chị nghĩ là trước nhất mình phải đi tìm người hiểu biết hơn mình để học hỏi. Học gì cũng được, miễn là học.

Ngày kia, đến một khu rừng Gà Dầu gặp hai con chim, nhìn hơi giống gà nhưng có màu sắc xinh đẹp hơn. Một con từ cổ đến ức màu xanh lục và con kia xanh dương đậm. Thân người của hai con chim có lông màu nâu nhạt cũng như Gà Dầu.

Gà Dầu đến gần con chim màu xanh lục, tự giới thiệu, rồi hỏi:

“Tôi là người ở xa đến muốn tìm người tài giỏi để học hỏi. Cô nương có nhận học trò không?” Continue reading Một con Gà và hai con Công

Gia đình gà

Mời các bạn đọc truyện ngắn Gia Đình Gà của Nguyễn thị Hải Hà đăng trên Gió O. Tranh Gà (trên trang Gió O) của họa sĩ Hà Cẩm Tâm.

Lục trong computer tôi có vài tấm ảnh cũ. Từ trái sang phải, viện bảo tàng ở Ottawa đã mời các họa sĩ cộng tác, gởi tác phẩm để được chọn làm tem mừng năm con gà (2005) Ảnh tem gà là tác phẩm của họa sĩ Hélène L’Heureux. Tấm giữa là bức tranh gà làm bằng hoa. Tấm thứ ba là ba con gà lôi (còn gọi là gà tây) băng ngang con đường trước nhà tôi. Tấm cuối là tượng của con gà bằng đồng. Gà đứng trên đống tiền vàng, tượng trưng cho sự giàu sang thịnh vượng. Con gà này tôi thấy ở nhà một người trong họ hàng của ông Tám.

Giới thiệu truyện ngắn

A Clock Ticks at Christmas của bà Patricia Highsmith. Truyện do Nguyễn thị Hải Hà dịch đăng ở Gió O.

Patricia Highsmith (1921 – 1995) sinh ra ở Fort Worth, Texas nhưng sống ở Pháp và Thụy Điển, phần lớn. Tác phẩm đầu tay của bà Stranger on the Train được đạo diễn Alfred Hitchcock làm thành phim năm 1950. Tuy thành công và nổi tiếng rất sớm ở Châu Âu, giới xuất bản và nhà văn ở Hoa Kỳ làm ngơ với bà. Truyện của bà có khuynh hướng đen tối, sát nhân, bạo lực (noir fiction). Nhân vật của bà, cả nam lẫn nữ, đều giỏi lên kế hoạch, âm mưu, thủ đoạn. Sở trường của bà là có thể biến một tình huống bình thường thành một môi trường chín mùi cho một cuộc sát nhân với biến chuyển tâm lý của nhân vật thật tinh tế. Với ngòi bút của bà, một con ngựa cũng có thể trả thù cho người chủ hiền lành và loại trừ một tên ma đầu đại gian ác. Bên cạnh Stranger on the Train, ở Hoa Kỳ, tác phẩm của bà được chuyển thành phim có Carol dựa vào tiểu thuyết The Price of Salt, và The Talented Mr. Ripley.

Hằng năm, vào dịp Giáng sinh tôi thường cố chọn vài truyện Giáng sinh tôi thích để giới thiệu với độc giả. Một việc làm xem có vẻ dễ dàng nhưng thật ra khá khó khăn. Điểm thứ nhất là có quá nhiều truyện. Thứ hai, truyện hay nhưng dài quá. Thời buổi điện tử và facebook, truyện dài kén độc giả. Truyện Giáng sinh thường xoay quanh một số chủ đề, tin hay không tin vào ông già Noel, còn gọi là Santa Claus, Kris Kringle, v. v… . Một chủ đề khác là kêu gọi lòng vị tha, thương người nghèo, san sẻ cái giàu có, tha thứ những hờn giận oán ghét trong quá khứ. Phải công nhận là chủ đề Giáng sinh đã được khai thác tận cùng. Một tác phẩm mới muốn được độc giả chú ý, phải có gì đó vượt qua cái giới hạn văn chương của những nhà văn lừng lẫy trong quá khứ đã tạo nên. Nói về lòng vị tha hay bần tiện của con người, chắc không ai có thể dám so sánh với Charles Dickens qua The Christmas Carol, hay Oliver Twist.

Tôi gặp truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas từ nhiều năm trước nhưng không chọn dịch vì nó dài. Tôi thích truyện này vì cái tính nhị nguyên của nó và không đi theo truyền thống hiền lành vị tha ngọt ngào như thường thấy trong truyện Giáng sinh. Bà Patricia Highsmith đã tài tình diễn tả sự đối xứng của hai nhân vật giàu-nghèo, nam-nữ, hào phóng – keo kiệt. Sở trường của bà, phân tích tâm lý nhân vật thật tinh tế, cái lý do xô đẩy họ đi đến quyết định thi hành một điều tối tăm hay tàn ác, như trong The Stranger on the Train, hay The Talented Mr. Ripley, cũng xuất hiện trong truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas.

Tôi có cảm tưởng tác giả bênh vực Michèle, nàng đã có lòng yêu thương trẻ em nghèo khó. Tuy nhiên nếu đặt mình ở cương vị của Charles tôi hiểu tại sao Charles tức giận. Phản ứng của chàng cũng không bất bình thường. Tôi không thể truyền đạt được ý nghĩa của chữ ticks trong tựa đề. Nó chỉ là tiếng tíc tắc của cái đồng hồ, nhưng tôi có cảm tưởng tôi nghe tiếng tíc tắc của một trái bom đặt nổ đúng giờ, để phá tan nát một cuộc hôn nhân lỗi nhịp.