From “The Speed of Darkness” – Muriel Rukeyser

From “The Speed of Darkness”

IX

Time comes into it.
Say it. Say it.
The universe is made of stories
not of atoms.

Muriel Rukeyser

Từ “Rất Nhanh của Bóng Tối”

IX

Đã đến lúc.
Nói đi. Nói điều ấy.
Thế giới được cấu tạo bằng những câu truyện
chứ không phải những hạt nguyên tử

Muriel Rukeyser (1913-1980)

Với Muriel Rukeyser, sinh trưởng ở thành phố New York, thơ là dụng cụ của người bất đồng chính kiến trong thế giới bất công quá đáng. Là nhà hoạt động chính trị cũng là ký giả rất năng động, bà đến rất nhiều nơi để săn những tin quan trọng, trong đó có vụ án nổi tiếng Scottsboro ở Alabama. Sau khi chứng kiến sự dã man của Cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, bà viết Mediterranean, một tập thơ mỏng. Tuy nhiên, bài tường thuật nổi tiếng nhất của bà là trận dịch silicosis (chứng bệnh do bị nhiễm độc của bụi sillicon) của những người thợ mỏ ở Gauley Bridge, thuộc tiểu bang West Virginia. Kinh nghiệm này tạo cảm hứng cho bà viết quyển The Book of the Dead, một cuộc tường thuật bằng thơ về cơn dịch. Những sự bất công đã tạo cảm hứng cho bà viết những bài thơ sắc bén chua cay nhất.

poets have to go naked

“The fact is
that I have lived with the belief that power, any kind of power, was the one
thing forbidden to poets. . .  Power requires that the inner person never
be unmasked.  No, we poets have to go naked. And since this is so, it is
better that we stay private people; a naked public person would be rather
ridiculous, what?”  May Starton.

Sự thật là, tôi thường tin rằng quyền lực (quyền hành hay quyền hạn), bất cứ loại
quyền lực nào, đều là đồ cấm kỵ của thi sĩ. . . 
Quyền lực đòi hỏi con người của nội tâm không bao giờ được tháo gỡ mạng
che mặt. Không, chúng tôi, các nhà thơ (và nhà văn) cần phải phơi bày (trần trụi).
Và bởi vì lý do này, chúng tôi nên sống riêng tư, khép kín; một người phơi trần
giữa đám đông trông có vẻ dị hợm buồn cười quá, đúng không?*” May Starton.

*Chỗ này bà dùng chữ what (cái gì, gì thế, gì đó), giống như là bà đang nói trước đám đông, và ngừng lại, hỏi đám đông nói gì mà bà không nghe rõ.

ý nghĩ của Nemerov

Both poet and painter want to reach the silence behind the language, the silence within the language. Both painter and poet want their work to shine not only in daylight but (by whatever illusionist magic) from within. Howard Nemerov.

Cả thi sĩ lẫn họa sĩ đều muốn đạt đến sự im lặng đằng sau ngôn ngữ, sự im lặng gói ghém trong ngôn ngữ. Cả họa sĩ lẫn thi sĩ muốn tác phẩm của họ được chiếu sáng không chỉ bằng ánh sáng của ban ngày mà còn (bởi bất cứ ma thuật nào của các nhà ảo thuật) ngời sáng từ bên trong.

Cám ơn

Đăng lên đây để nhớ là chục người ghét thì cũng có một người không ghét mình. Đủ để vui mà ráng sống thêm vài năm.

— 

Hi Tieu Muoi

Khi nao Tieu Muoi roi rai thi viet,
dung ban tam gi ca
Khi nao Dai Ca con song va con lam
viec voi SGN thi con goi bao den Tieu Muoi, neu  mat cong nhan bao cung
"rang chiu"
Chuc yen vui

Than


— On Wed, 10/12/11, wrote:


From:
Subject: Hai bài dịch về Transtromer
To:  
Date: Wednesday, October 12, 2011, 4:58 PM

Nhận được báo Sài Gòn Nhỏ, cám ơn Đại ca. Em cần phải nghiên cứu
một số chủ đề để học thêm vì thế không đăng bài có chất lượng được. Em vẫn giữ
blog nhưng chỉ đăng mấy cái ấm ớ giải trí thôi. Có lẽ Đại Ca và SGN không cần
thiết phải gửi báo cho em vì em sợ có lỗi nếu không có bài. Tuy nhiên cả gia
đình bên chồng em, nhất là ông anh chồng thì đọc chăm chỉ lắm. Cám ơn anh
nhiều. Sau đây là hai bài dịch có kèm theo link bản gốc. 

Reading Materials

Nhận được Tân Văn số 47 (tháng 6/2011), một tuần báo SGN,và
tờ CSCH số 24 (tháng 6, 2011). Cám ơn báo SGN và nhà văn VTrD.  
Nhận được 2 số Thư Quán Bản Thảo số 47 giới thiệu nhà thơ Luân Hoán, dày 220
trang. Cám ơn nhà văn THT.
Nhận được các tap chí Văn với chủ đề:
Viết Về Hội Họa (số 93, ngày 1-11-1967)
Viết Trong Khói Lửa (số 100 và 101 ngày 1-3-1968)
Đầu Xuân Lộc Mới (số 125 ngày 1-3-1969)
Phượng Trong Thành Nội (số 132 ngày 15-6-1969)
Khi Mùa Mưa Tới (số 181 ngày 1-7-1971)
(Không có chủ đề) số 210 15-9-1972,
Tuyển Tập Tháng Mười (năm 1973)
Thanh Tâm Tuyền (số đặc biệt, tháng 10 năm 1973)
Văn (Không chủ đề) ngày 4-3-1975
Sáng Tạo số 20
Sáng Tạo số 27
Xin trân trọng cảm ơn các nhà xuất bản, người viết, người sưu tập, và người gửi báo đã giúp cho tinh thần tôi thêm phong phú, và cặp mắt của tôi thêm mệt mỏi và vì thế bớt tinh anh (đổ thừa để bắt đền). 

Of Nuance and Scruple – George Steiner

“Samuel Beckett is master of two languages. This is a new and deeply suggestive phenomenon. Until very recently, a writer has been, almost by definition, being rooted in his native idiom, a sensibility housed more closely, more inevitably than ordinary men and women in the shell of one language. To be a good writer signified a special intimacy with those rhythms of speech that lie deeper than formal syntax; it meant having an ear for those multitudinous connotations and buried echoes of an idiom no dictionary can convey. A poet or novelist whom political exile or private disaster had cut off from his native speech was a creature maimed.”

Về những sắc thái và những điều đắn đo

“Samuel Beckett thấu đáo quán triệt cả hai ngôn ngữ. Đây là một hiện tượng mới và rất đáng chú ý. Chỉ mới gần đây là có khác, từ trước đến nay, hầu như là một định nghĩa, nhà văn luôn sống gắn liền với ngôn ngữ của quê hương, một điều nhạy cảm (chuyện kín) cần được giữ gìn cẩn thận, càng quan trọng với nhà văn hơn những người bình thường trong lớp vỏ bên ngoài của một ngôn ngữ. Nhà văn có tài có khả năng làm nổi bật sự liên hệ mật thiết những nhịp điệu nhịp nhàng của ngôn ngữ kín đáo chìm sâu hơn ngữ pháp thông thường; phát hiện được vô số hàm ý và những âm vang chìm lắng của ngôn ngữ thường sử dụng hằng ngày mà không quyển từ điển nào có thể chuyên chở. Một nhà thơ hay tiểu thuyết gia, bị lưu đày vì lý do chính trị hay vì một tai họa riêng nào đó, không thể sử dụng ngôn ngữ của quê hương, là một người bị tàn tật.”

Đọc được mấy bài trong quyển George Steiner At the New Yorker.  Steiner viết rất văn vẻ bay bướm sang trọng và khá khó hiểu bởi vì ông hay dùng những chữ to lớn cao siêu và rất Ăng-lê. Tôi định đọc quyển Woman Writer của bà Oates nhưng quyển của Steiner đã hết hạn mượn cần phải trả cuối tuần nên phải đọc ngay.  Đọc được hai ba bài thấy mệt quá vì phải tra tự điển liên tiếp, và đa số những tác giả ông viết bài review vẫn còn xa lạ với tôi.  Đọc ít quá cần phải đọc vài năm nữa mới có đủ kiến thức đọc.

Đọc được một đoạn khá hay, có một vài câu không biết chắc có dịch đúng không nên chép lên đây để ai có muốn dạy bảo xin vui lòng ra tay chỉ giáo thì tôi cảm ơn lắm.