Đêm mùa hạ

dâu dại

Mùa này, dâu dại trong rừng bắt đầu chín. Chép một bài thơ để bạn đọc chơi cho vui. Thật tình tôi ngại dịch thơ lắm, vì rất nhiều khi tôi gặp những câu thơ tôi không biết dịch như thế nào. Nhưng bài thơ dưới đây nói về đêm mùa hè thật êm đềm. Tối qua, khi đóng cửa đi ngủ tôi thấy đom đóm lập lòe ở mấy bụi cây trước nhà gần khóm trúc, sau nhà ngay ở hàng rào tiếp với bìa “rừng.”

Summer Night

Đêm mùa hạ

Like a bell note shivered into fragments of fine sound:
The summer night. But silence and the stillness do astound.
Me more than all this strange-go-round
of multitudinously minted chord along the ground

Như tiếng chuông run rẩy vỡ thành mảnh vụn âm thanh:
Đêm mùa hạ. Sự tĩnh mịch làm tôi
Ngạc nhiên hơn tất cả những điều kỳ lạ đang quay cuồng
của muôn vàn khúc nhạc mới ra đời lan dài trên mặt đất

This is an edifice of silence, vast:
Into the chinks of silence sound will creep
A little while – and fall asleep
Its strength being spent and past.

Đây là một khối im lặng khổng lồ
Âm thanh sẽ rón rén thoát ra từ kẽ hở của im lặng
Một chốc sau – rồi sẽ ngủ say
Sức mạnh của nó phai mờ dần và biến mất

They say the crickets sing all night:
I know
They strike against the walls of silence
Insistently, a futile blow

Họ nói rằng loài dế ca hát suốt đêm
Tôi biết
Chúng tấn công vào bức tường im lặng
Tuy kiên trì, nhưng đó là một nỗ lực không thành

Kenneth Slade Alling (1887-1966)

Giấc mơ thần tiên giữa mùa hạ

Hai đứa con mùa hè về chơi. Cô lớn về một tuần. Cô nhỏ về sáu tuần. Mới đưa cô nhỏ lên máy bay về Illinois hôm qua. Cô lớn tự lái xe về Kentucky từ hồi tuần trước. Tuần lễ có mặt cả hai đứa con, tụi nó đưa tôi đi New York vì tôi bảo muốn xem viện bảo tàng Mỹ Thuật (the Met, Metropolitian Museum of Art). Thật ra tôi chỉ muốn có thì giờ chơi vui với con, một hình thức vá víu những thiếu hụt trong bổn phận làm mẹ khi các con còn nhỏ.

sân cỏ lâu đài người tắm nắng
Sân cỏ nam thanh nữ tú phơi nắng cho da nâu hồng. Phía sau là lâu đài Belvedere. Lâu đài này luôn làm tôi nhớ đến những vở kịch của Shakespeare. Và dĩ nhiên nhớ đến cuồn phim The Fisher King do Jeff Bridges và Robin Williams đóng chung với nhau, ban đêm hai diễn viên đã “truổng cời” chạy long nhong trên bãi cỏ này. Bạn nào muốn xem thêm ảnh của Belvedere Castle thì nhấn link này. https://chuyenbangquo.wordpress.com/2013/07/13/vai-dong-2/

Cô nhỏ dẫn tôi đi ngang vườn Shakespeare (đây là lần thứ hai), ngang sân cỏ phía trước của lâu đài Belvedere nơi các cô gái và chàng trai đang tắm nắng cho bớt trắng. Chúng tôi cũng đi ngang Delacorte Theater, nơi mỗi mùa hè đều trình diễn kịch Shakespeare, vào cửa miễn phí. Mùa hè này trình diễn hai vở kịch. Julius Cesar và Midsummer Night’s Dream. Vở kịch Giấc Mơ Đêm Giữa Mùa Hạ sẽ bắt đầu vào ngày mai, thứ Hai 10 tháng Bảy 2017.

bảng tên vườn Shakespeare
Vườn Shakespeare
shakespeare garden
Bảng hiệu của vườn Shakespeare, bạn muốn nghe minh họa bằng phone, xin tặng vườn năm USD
Hoa trong vườn Shakespeare
Hoa trong vườn Shakespeare
hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare
Hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare

Dù đã viết về vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ hình như hồi tuần trước, nhưng sẵn đây xin viết tiếp. Đây là một vở hài kịch dài với rất nhiều nhân vật. Đoạn trước tôi chỉ viết sơ qua về loại hoa thần tiên viola (violet) khi bị mũi tên của thần ái tình Cupid bắn trúng trở thành thần dược ái tình. Thoa nước hoa này lên mắt người đang ngủ thì khi thức giấc người ấy sẽ yêu si mê người (hay vật) người ấy nhìn thấy đầu tiên.

Như các bạn đã biết. Người La Mã chiến thắng người Hy Lạp, chiếm trọn vẹn sự giàu có sung túc và nền văn minh của quốc gia này. Họ biến rất nhiều thần thoại Hy Lạp thành thần thoại La Mã, chỉ đổi tên các vị thần. Cupid là vị thần ái tình của La Mã. Tên Hy Lạp của thần này là Eros. Theo thần thoại La Mã, Cupid là con của Venus (Vệ Nữ) nữ thần của tình yêu và nghệ thuật và Mars, thần Chiến Tranh. Từ lâu tôi nghĩ rằng vì Venus và Mars yêu nhau, nên chúng ta thường có những truyện trái ngang của tình yêu xảy ra trong chiến tranh (thí dụ như Chinh Phụ Ngâm Khúc).

Trong vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ, Shakespeare có một đoạn thơ như sau:

How happy some o’er other some can be!
Through Athens I am thought as fair as she.
But what of that? Demetrius thinks not so.
He will not know what all but he do know.
And as he errs, doting on Hermia’s eyes,
So I, admiring of his qualities.
Things base and vile, holding no quantity,
Love can transpose to form and dignity.
Love looks not with the eyes, but with the mind,
And therfore is wing’d Cupid painted blind.
Nor hath Love’s mind of any judgment taste;
Wings, and no eyes, figure unheedy haste.
And therefore is Love said to be a child,
Because in choice he is so oft beguiled. 

Đây là đoạn thơ mà nhân vật Helena đã than thở khi bị  Demetrius (người yêu của nàng) phụ bạc, để chạy theo Hermia, cô bạn gái thân nhất của Helena.

Dịch tạm: 

Có người được hạnh phúc hơn nhiều người khác
Ở cả thành phố Athens, người ta nghĩ là tôi cũng xinh đẹp như bạn ấy
Nhưng điều này không quan trọng, bởi vì Demetrius không nghĩ như thế.
Chàng không phải là người hiểu biết tất cả mọi chuyện trên đời, nhưng chàng biết chắc một điều (là Hermia rất xinh đẹp, nhất là đôi mắt).
Và chàng đã sai lầm (vì phụ bạc Helena), khi mê mẩn đôi mắt Hermia,
Còn tôi thì sai lầm khi say mê tính tốt (tưởng lầm) của chàng.
Chuyện thấp hèn và sa đọa, không đếm hết.
Tình yêu có thể biến đổi thành hình dáng trở thành cụ thể và trang trọng.
Tình yêu không nhìn bằng đôi mắt mà bằng tâm hồn.
Vì thế chàng Cupid có đôi cánh thường được miêu tả là mù quáng;
Và tâm hồn của Tình Yêu cũng không có những phán xét bằng thành kiến
Có cánh (để bay bổng), nhưng không có mắt (để nhìn), tượng trưng cho sự vội vã dẫn đến sai lầm.
Vì thế Tình Yêu bị cho là một đứa trẻ.
Bởi vì trong sự chọn lựa, cậu bé dễ bị dụ dỗ.

Bài thơ dài, nhưng tôi chỉ muốn nhắm đến phần Shakespeare nói rằng Cupid, thần Ái Tình, chỉ là một cậu bé có cánh, mắt thì mù, không mù thì cũng lòa, nên có cung tên cứ bắn vào tim loài người để họ rơi vào (cạm bẫy) của tình yêu (fall in love) nhưng vì mù nên cứ bắn trật, nên người này yêu mà người kia không đáp lại, vì thế nhân loại cứ khốn khổ “khi theo nhau, khi theo mãi tình yêu”“tình thì cứ theo người như chiếc bóng, người thì không bắt được bóng bao giờ.” Không nhớ tên tác giả.

Cupid đang hôn Psyche
Cupid và Psyche tượng điêu khắc trong viện bảo tàng MET.  Tác giả là Antonio Canova, Italian, Possagnio 1757-1822, Venice. Cupid and Psyche, Plaster

 

Cupid and Psyche
Cái (sắp sửa) hôn của Cupid và Psyche

Theo thần thoại La Mã, Cupid là một cậu bé bụ bẫm có cánh. Nhưng theo thần thoại Hy Lạp thì Eros là một chàng thanh niên mảnh mai. Tôi cũng đã kể chuyện tình của Cupid với Psyche rồi, ở đây nhắc lại một chút để bạn nào chưa đọc bài cũ thì đọc ở đây.

Psyche là một cô gái rất đẹp bị bắt đem tế thần. Thần là một con quái vật thích ăn thịt người. Psyche bị mang đến một tảng đá to trên một hòn núi cao, trói ở đó chờ quái vật đến bắt. Thần Gió mang Psyche đến một lâu đài rực rỡ. Hằng đêm có một chàng thanh niên che mặt đến yêu nàng. Đến lúc đêm khuya, yêu trong bóng tối. (“Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa. Nửa đêm chàng đến, sáng ra về. Đến như giấc mộng, khuya không đợi. Đi tựa mây trời không định nơi.” Viết lại theo trí nhớ một đoạn thơ không biết là của ai, chỉ biết được tác giả Quỳnh Giao đặt ở lời tựa quyển Cánh Hoa Chùm Gửi) Tình yêu của hai người càng ngày càng thắm thiết. Cứ gần sáng là chàng biến đi mất. Chàng căn dặn nàng không được tìm cách nhìn mặt chàng. Psyche không ngăn nổi sự tò mò nên một đêm kia đốt đèn soi mặt người tình và dầu trong đèn bị nghiêng đổ lên da chàng, hơi nóng của dầu đánh thức chàng. Psyche nhận ra đó là Cupid, và Cupid nổi giận nên bỏ đi. Nụ hôn đầu tiên của Cupid dành cho Psyche được giới văn nghệ sĩ ghi chép lại, bằng văn chương và điêu khắc, vì đây là biểu tượng đánh mất sự trong trắng của tuổi thơ ngây và đánh thức khoái lạc của nhục dục.

Hằng năm, cứ vào mùa hè, là tôi lại nghĩ đến đi xem kịch Shakespeare trong Central Park. Vé thì phát không, nhưng ai cũng muốn xem nên không dễ có vé. Tặng ban tổ chức 500 USD thì sẽ có vé xem theo ý mình chọn bất cứ ngày nào. Muốn đi xem kịch này thì phải thuê khách sạn ở qua đêm trong New York nếu không muốn lái xe vào thành phố sợ chen lấn chật chội. Kịch bắt đầu lúc tám giờ, tan kịch, lấy xe xong cũng phải mười một giờ. Nghĩ đến đó là tôi thấy mệt rồi. Thôi thì để nó là một giấc mơ chưa thành, và như thế mỗi mùa hè lại mày mò xem năm nay vở kịch gì sẽ được trình diễn và tìm đọc vở kịch ấy.

Bạn nào thích nghe nhạc thì mời nghe Midsummer Night’s Dream của Mendelssohn.

Sao trời mùa hạ

đồng hoa vàng bên cái thác cạn
Đồng hoa vàng bên cái thác cạn nước

Không phải ai cũng có thể nhìn thấy sao. Bạn phải ở một nơi có rất ít ánh sáng, đúng với cái nghĩa đêm đen. Nơi ấy phải ít cây cối và lúc ấy trời phải trong. Bạn sẽ thấy sao nở ra từng đóa và dần dần cả một rừng sao, hay một đồng sao. Thêm một bài thơ về mùa hè với những vì sao của Carl Sandburg.

Summer Stars

Bend low again, night of summer stars
So near you are, sky of summer stars
So near, a long-arm man can pick of stars
Pick of what he wants in the sky bowl
So near you are, summer stars,
So near, strumming, strumming,
So lazy and hum-strumming

Carl Sandburg

Lại dịch đại nha. Nói nhiều lần rồi nhưng nói nữa với những bạn chưa quen biết. Tôi không có khiếu làm thơ, cách cảm nhận thơ cũng không sâu sắc lắm. Đọc thơ hay nghe nhạc thì hiểu đại khái thôi. Ai muốn tặng tôi bản dịch xin cứ vui lòng ra tay.

Những vì sao mùa hạ

Lại cúi xuống thấp, đêm của những vì sao
Bạn rất gần, vòm trời của những vì sao
Rất gần, người có cánh tay dài có thể hái được những vì sao
Chọn những cái hắn thích trong bầu trời (như cái bát to úp ngược)
Bạn rất gần, đàn ngôi sao mùa hạ
Rất gần, tình tang tình tang tiếng khảy đàn
Lười lĩnh, ầu ơ vu vơ theo tiếng đàn

Bản dịch của Anh kim

 

Những vì sao mùa hạ

Những vì sao lấp lánh đêm huyền diệu
Trên vòm trời tỏa triệu chấm li ti
rất gần, người dài tay đi
Sao đêm chọn hái những gì lung linh

(bầu trời xuống thấp tay mình
tựa như chiếc bát to uỳnh úp bên)

Ngày mùa hạ sao gần tay hái
rất gần, thổn thức khảy tình ca
tình la la tình la la
thảnh thơi ta hát guitar theo đàn.


Bản dịch được chuyển thành vần điệu của Irieullmyes

Những vì sao mùa hạ

Lại cúi xuống thấp – đêm của những vì sao !
Bạn đã đến rất gần với mái vòm cao của các vì tinh tú
Đủ gần để cánh tay dài vươn tới
Hái sao trời với ý thích của mình thôi.

( Bầu trời cao như một chiếc bát to úp ngược )
Để đàn sao với bạn đến thật gần.
.
Tang tình tang
Khúc ngân vang
Không còn xa nữa.
Theo tiếng đàn lười lĩnh hát vu vơ.


Cám ơn Anh kim và Irieullmyes.

Cuối hạ ở thôn làng

hoa xương rồng 2
Hoa xương rồng
hoa xương rồng
Hoa mùa hè mọc trong những kẹt đá

Village in the late summer

Lips half-willing in a doorway
Lips half-singing at a window
Eyes half-dreaming in the walls
Feet half-dancing in a kitchen
Even the clocks half-yawn the hours
And the farmers make-half answers

Carl Sandburg

(6 January 1878 – 22 July 1967) Nhà thơ Mỹ ba lần được giải Pulitzer.

Tôi thấy bài thơ này thật đáng yêu, nhưng không thể truyền đạt được qua bản dịch. Tôi cảm nhận được vẻ chậm chạp, lười biếng, của những ngày hè.

Cuối hạ ở thôn làng

Nụ hôn ngần ngừ ở cửa
Tiếng hát chần chờ bên song
Mắt lơ đãng đậu trên tường
Chân hững hờ nhịp luân vũ
Đồng hồ lửng lơ ngáp gió
Nhà nông nửa vời đáp lời

Nguyễn thị Hải Hà dịch tạm tạm, để xem có ai nghĩa hiệp ra tay.

Được đánh bóng bởi irieullmyes.

‘ Nụ hôn ấy ngần ngừ bên thềm cửa
Từ bên song một tiếng hát chần chừ
Đôi mắt ai lơ đãng đậu trên tường
Trong nhà bếp chân hững hờ điệu vũ
.
Gió lướt qua đồng hồ lơ lững ngáp
Bác nhà nông thong thả đáp nữa vời.’

Refugees – Người tị nạn

Refugees
– Charles Simic

“Cameo Appearance”

I had a small nonspeaking part
In a bloody epic. I was one of the
Bombed and fleeing humanity.
In the distance our great leader
Crowed like a rooster from a balcony.
Or was it a great actor
Impersonating our great leader?

That’s me there, I said to the kiddies.
I’m squeezed between the man
With two bandaged hands raised
And the old woman with her mouth open
As if she were showing us a tooth

That hurts badly. The hundred times
I rewound the tape, not once
Could thay catch sight of me
In that huge gray crowd,
That was like any other gray crowd.

Trot off to bed, I said finally.
I know I was there. One take
Is all they had time for.
We ran, and the planes grazed our hair.
And then they were no more
As we stood dazed in the burning city.
But, of course, they didn’t film that.

From Walking the Black Cat (1996)

Bản dịch của Nguyễn thị Hải Hà

“Vai trò ngắn ngủi”*

Tôi có một vai diễn không lời
Trong một cuốn phim dài đẫm máu. Tôi là một trong đám người
Bị đánh bom và đang chạy trốn.
Xa xa vị lãnh đạo vĩ đại của chúng tôi
Đang gáy như gà trống trên ban công.
Hay đó chỉ là một diễn viên đại tài
Đang giả dạng làm nhà lãnh đạo.

Tôi đang ở chỗ kia, tôi nói với đám trẻ.
Tôi đang chen ở giữa một người đàn ông
Hai bàn tay băng bó đang giơ lên
Và bà cụ già miệng há hốc
Như đang muốn khoe răng.

Thật là đau đớn. Hằng trăm lần
Tôi quay lại đoạn phim, không phải chỉ một lần
Liệu họ có thể nhìn thấy tôi
Trong đám đông khổng lồ màu xám xịt,
Như bao nhiêu đám đông khác.

Thôi đi ngủ, mãi rồi tôi cũng nói.
Tôi biết tôi đã có mặt ở đó. Chỉ diễn một lần
Họ chỉ có ngần ấy thời gian.
Chúng tôi chạy, và đoàn phi cơ bay sát trên đầu, chỉ cách đường tơ kẻ tóc
Rồi chúng biến mất cả
Còn lại chúng tôi đứng thất thần nhìn thành phố đang cháy rực
Nhưng, dĩ nhiên, họ chẳng quay phim lúc này.

Trích trong “Dẫn Con Mèo Đen Đi” (1996)
Ghi chú:
*”Cameo appearance” dùng để chỉ sự xuất hiện trong chốc lát, thường ở phần đầu hay phần cuối của cuốn phim hoặc vở kịch, của một người rất nổi tiếng (trong chính trị, văn học, hay nghệ thuật). Vai trò của người nổi tiếng này có thể không mấy quan trọng, sự xuất hiện của nhân vật chỉ được dùng để tăng sự chú ý của khán giả.

Bài thơ này xuất hiện trong tuyển tập Letters of Transit – Reflections on Exile, Identity, Language, and Loss do André Aciman biên tập.

Charles Simic (1938) nhà thơ vinh danh Hoa Kỳ năm 2007. Được giải thơ Pulitzer năm 1990.

Hài cú và montage

Hôm nọ tôi nhặt được ở thư viện bỏ túi cuốn sách: Film Theory and Criticism – Introductory Readings, Fourth Edition. Edited by Gerald Mast, Marshall Cohen, and Leo Braudy. Quyển tiểu luận về phim ảnh này dày lắm. Tò mò, tôi lật xem mục lục và vài chương xem có gì dễ đọc không. Tôi gặp chương viết về hình thức của phim, tác giả là Sergei Eisenstein. Ba chớp ba nhoáng tôi tưởng có liên hệ đến ông Einstein nên ngừng lại một chút đọc vài trang rồi thấy một chùm thơ hài cú. Điều thú vị là ông Eisenstein đã nói về hình thức phôi thai, tượng hình của chữ Hán. Nhiều cái tượng hình của chữ nhập lại thành câu thơ. Ông so sánh với hình thức của phim. Nhiều khúc phim ngắn (short shot) được nối ghép lại với nhau thành một đoạn phim. Mỗi chữ hay mỗi đoạn phim mang một ý nghĩa. Nhiều chữ nhiều đoạn phim gom lại biến thành một ý nghĩa khác có chất chứa tình cảm hay triết lý nhân sinh, vân vân. Cách ghép phim này gọi là montage. Tôi không rành về phim ảnh nên hiểu đại khái đơn giản như thế. Hài cú là một thứ montage của những chữ ghép lại. Ông ví von như thế đúng hay sai thì tôi không biết, nhưng sẵn thấy mấy bài thơ hài cú thì chép lại đây hầu bạn đọc. Bài thơ cuối cùng được viết theo thể loại tanka, dài hơn hài cú hai câu.

A lonely crow
On leafless bough,
One autumn eve.

Con quạ lẻ loi
Trên cành trơ trụi lá
Một chiều thu

BASHO

What a resplendent moon!
It cast the shadow of pine boughs
Upon the mats.

Trăng sao mà rạng ngời
Soi bóng cành thông
Trên tấm đệm.

KIKAKU

An evening breeze blows.
The water ripples
Against the blue heron’s legs.

Gió chiều thoang thoảng
Sóng gợn lăn tăn
Ấp yêu chân hạc.

BUSON

It is early dawn.
The castle is surrounded
By the cries of wild ducks.

Bình minh
Lâu đài bị bao vây
Bởi tiếng kêu của vịt trời.

KYOROKU

O mountain pheasant
long are the feathers trail’st thou
on the wooded hill-side-
as long the nights seem to me
on lonely couch sleep seeking.

Ô kìa chàng chim trĩ
Đuôi lông vũ của chàng rất dài
trong khu rừng bên đồi
dài như đêm đen
trên giường cô đơn tìm giấc ngủ.

HITOMARO

Snow flakes – Hoa tuyết

Update: Thêm vài tấm ảnh chụp trời tuyết năm 2014. Bây giờ trời tuyết thì cũng chẳng khác gì mấy tấm ảnh cũ.

Vì tôi có dư thì giờ và vì trời tuyết đang rơi, nên chẳng có gì thú vị hơn là đọc thơ về tuyết. Hôm nọ tôi nhặt được ở thư viện bỏ túi một tập thơ toàn là về mùa đông và tuyết. Thật là tuyệt vời, đúng là thứ tôi tìm kiếm đã lâu. Tập thơ lại bao gồm toàn là những nhà thơ tên tuổi. Hôm nay mời bạn đọc một bài của Emily Dickinson. Tôi rất ớn thơ của nữ thi sĩ đại tài này, vì tôi không hiểu hết, chỉ có thể hiểu nghĩa đen (như vậy cũng là may lắm rồi) còn Bà có ẩn ý gì nữa thì tôi đầu hàng.

Snow flakes
I counted till they danced so
Their slippers leaped the town,
And then I took a pencil
To note the rebels down.
And then they grew so jolly
I did resign the prig,
And ten of my once stately toes
Are marshalled for a jig!

Hoa tuyết
Tôi đếm cho đến khi các nàng múa (đến nỗi)
Giày mềm của các nàng tung tăng khắp phố
Rồi tôi lấy bút chì
Ghi chép lại về những người nổi loạn.
Các nàng lớn nhanh thật vui vẻ
Tôi bỏ rơi vẻ đạo mạo
Mười ngón chân trưởng giả của tôi
bị cuốn theo điệu múa

Bài thơ này làm tôi có cảm tưởng như những đóa hoa tuyết đang múa theo điệu ballet vì chữ slippers và chữ leap. A jig là một điệu khiêu vũ của người Irish. Dịch tàm tạm theo cái hiểu của tôi nên không bảo đảm lắm.