Hai cuốn phim

Tuần vừa qua tôi mượn rất nhiều phim ở thư viện có nhiều phim thuộc loại lãng phí thì giờ. Thí dụ như hai tập phim Brakhage. Đây là loại phim avant-garde tôi xem không nổi, càng xem càng hoa mắt chẳng biết nó nói gì. Một phim ngoại quốc của nước nào không nhớ “The Short Story of Love” xem được nhưng nếu kể ra thì hơi kỳ cục. Có hai phim đáng nhắc đến là “1984” và “The Artist and the Model.”

“1984” xem lâu rồi giờ xem lại. Xem lại vì báo chí cứ nói vào thời đại của Tổng thống Trâm nên xem lại phim này. Tôi thấy nếu so “1984” với chính sách cai trị của ông Trâm ngay lúc này thì hơi quá đáng. Xem “1984” tôi tưởng tượng đến VN trong những năm sau 1975 nhiều hơn. Nhất là ở chỗ hai nhân vật chính hẹn hò nhau lần đầu nàng mang tặng chàng cà phê, đường, sữa, và trà. Còn ở bất kỳ thời đại nào ở bất kỳ quốc gia nào, có một ý tưởng của Orwell trong quyển “Animal Farm” có thể rất gần gũi với người xem và người đọc, đó là, tất cả thú vật đều bình đẳng, tuy nhiên có vài con thú được quyền bình đẳng nhiều hơn mấy con thú khác.

“The Artist and the Model” dịch là “nghệ sĩ và người mẩu” là phim của đạo diễn Fernando Trueba. Cùng viết phim bản với Trueba là Jean-Claude Carrière. Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1943, Pháp bị Đức chiếm đóng. Ở gần biên giới Pháp và Tây Ban Nha, có một điêu khắc gia; Marc Cros đã lâu không còn nắn tượng nữa. Một buổi sáng bà vợ của ông, Léa Cros, ra chợ gặp một cô gái Tây Ban Nha, tay chân trầy trụa, người có vẻ mệt và đói. Nhìn thấy vẻ đẹp của nàng bà nghĩ có thể chồng bà sẽ muốn dùng nàng làm người mẩu khỏa thân.

Phòng sáng tác của Marc ở trên đồi cao, rừng vắng. Mercè, cô người mẩu, được trả lương và trú ngụ ngay trong studio này. Nàng phát hiện có một người du kích Tây Ban Nha chống Đức và nàng giúp đỡ che dấu anh chàng. Nét trẻ trung và vô tư của nàng làm sống lại sức sáng tạo và cả những cảm giác trần tục của nhà điêu khắc. Ông nắn bức tượng khỏa thân của nàng và đó cũng là tác phẩm cuối cùng của ông.

Phim trắng đen rất đẹp. Cốt truyện không mấy thuyết phục tôi. Phim đưa ra một vài câu hỏi để người xem suy nghĩ. Thí dụ như nhà điêu khắc bảo rằng hai bảo bối tuyệt vời nhất của Thượng Đếlà vũ trụ và đàn bà. Bà Eva là người yêu của Thượng Đế và là mẹ của Adam. Khi người nghệ sĩ không thể sáng tác được nữa thì đi tìm cái chết. Còn một điểm quan trọng nữa vậy mà tôi quên không nhắc. Carriere cho rằng, người nghệ sĩ không nhất thiết phải theo một khuynh hướng chính trị nào cả, tất cả chỉ dành cho cái đẹp của nghệ thuật, mà cái đẹp của người đàn bà, người mẩu là cái đẹp của nghệ thuật.

Tóm lại, tôi đang bí đề tài, nên viết nhảm.

“The Short Story of Love” (Tình Yêu Ngắn Ngủi thôi để dịch cho văn hoa thì dịch là Tình Trong Phút Giây) nói về một cậu bé nhà nghèo, yêu một cô gái điếm rất đẹp. Cô điếm này tuổi có thể gấp đôi tuổi cậu bé, nhưng tình yêu thơ ngây của cậu làm rung động trái tim cằn cỗi đầy hoài nghi của của nàng. Nhưng rốt cuộc đó cũng chỉ là một thứ tình ngắn ngủi.

Bức họa của họa sĩ kiêm đạo diễn Akira Kurosawa

ran_storyboards
Bức họa của họa sĩ (trước khi là đạo diễn) Akira Kurosawa

Đăng ảnh trước viết bài sau. Ảnh lấy từ Wikipedia. Bức họa nhỏ xíu nhờ chị Huệ Gió O làm cho lớn lên. Đây là bức họa khi ông Kurosawa đã phác ra khi ông đạo diễn phim Ran, một phim nổi tiếng của ông đã khiến các nhà làm phim Tây phương xếp ông vào nhóm đạo diễn có khuynh hướng Shakespeare. Phim Ran phỏng theo vở kịch King Lear nhưng nếu người xem chưa hề biết đến King Lear sẽ không nhận ra nét Tây phương trong phim này vì ông đã dùng sự sáng tạo thay đổi nhân vật và Nhật Bản hóa phim. Để xây dựng quang cảnh cho phim ông đã phác họa tấm tranh này. Ban xây dựng dựa theo bức họa để xây thành triều đình cho vị vua già trở nên mất trí trong phim.

Đường hầm

Tôi đi trên con đường ở một vùng núi non hẻo lánh. Trời đang mùa thu, cây cối khô héo và bầu trời ảm đạm. Trên sườn núi xa xa, có phủ một lớp tuyết mỏng. Đường đi ướt át lầy lội. Nước đọng thành vũng ở một vài nơi; có lẽ do tuyết tan. Khi thả tôi ra người ta trả lại bộ đồ tôi mặc lúc trước khi bị bắt. Tước bỏ huy hiệu và chức vụ, tôi vẫn còn đôi ủng, cái mũ kết, và nhất là cái áo khoác trây di khá tốt. Cái “náp sắc” khoác vai trong đó có vài thứ đồ dùng cần thiết và một ít tiền lẻ (tôi ngạc nhiên là người ta không tịch thu) khiến tôi giống một chàng trai trẻ du hành theo kiểu nghèo hơn là một quân nhân.

Trước mặt tôi là một đường hầm tối thăm thẳm. Không biết chỗ này ở đâu, tên làng là gì,  và từ bao giờ người ta xây được một cái đường hầm bê tông kiên cố như thế. Cứ nghĩ mình phải đi xuyên qua đường hầm tối tăm này đã khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống, nhưng tôi không thể không đi. Sau lưng tôi là chặng đường hoang vắng, không hàng quán nhà cửa. Tôi cũng đã đói lắm rồi, cần tìm chỗ ăn và tạm trú qua đêm. Tôi không thể quay lại nên đành phải đi tới. Vắng vẻ đến nỗi không có cả tiếng chim hay tiếng côn trùng. Bước chân tôi khua vang như tiếng trống.

Cộp! cộp! cộp!

Tiếng chân tôi gõ đều trong im vắng. Thình lình, có tiếng chó tru từ xa. Từ trong bóng tối lao ra một con chó thật hung dữ. Con chó này không phải loại chó thường mà là loại chó được dùng để ra trận. Nó có mặc một cái áo nịt. Phủ xuống hai bên sườn của nó là túi dụng cụ chứa chất nổ dùng để chống chiến xa. Ánh sáng nhá nhem của cái đèn đỏ gắn ở đầu đường hầm chiếu xuống làm con chó ánh lên một màu đỏ như nhuộm máu. Con chó rất hung dữ. Bộ răng nanh của nó khiến nó giống quỷ hơn là giống chó nhà người ta nuôi và rất yêu mến. Nó gầm gừ, dường như muốn xé xác tôi ra thành những mảnh vụn. Tôi không có gì để tự vệ nếu cần phải đánh nhau với con chó; vì vậy tôi chỉ thủ thế, không cử động đột ngột khiến nó nghĩ là tôi tấn công. Tôi nhẹ nhàng bước lui, từ từ rời xa nó, có nghĩa là dấn bước sâu hơn vào đường hầm. Rất may, con chó không đuổi theo mà ngồi trấn ở ngay đầu đường hầm như ngăn chận không cho tôi trở ra.

Càng đi đường hầm càng tối, tiếng chân tôi càng vang to, át hẵn tiếng tim đập của tôi. Tôi muốn tìm đường về nhà, về quê hương, nhưng chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà. Đường vào địa ngục có lẽ cũng chỉ hoang vu đến như thế này thôi.

Bùm! Bùm! Bùm! Tiếng gót giày của tôi nện trên nền đường bê tông. Mười bước. Hai chục bước. Rồi trăm bước. Đường hầm dài như vô tận. Càng đi càng thấy lạnh, có lẽ do thiếu ánh sáng lâu năm. Cũng có thể là do âm hồn lẩn khuất đâu đây. Hơi thở tôi biến thành đám khói mờ trước mặt. Hơi nước đọng cả lên mi mắt tôi. Tôi đi như người mù cứ hướng phía trước mặt mà bước.

Rồi tôi cũng ra khỏi đường hầm. Trước mặt tôi là một vũng sáng lờ mờ. Mặt trời đã bắt đầu khuất bóng chỉ còn lại ánh sáng chạng vạng. Thứ ánh sáng của hai vùng âm dương giao nhau.

Tuy không phải là người nhát gan, nhưng phải nói là từ lúc bước vào đường hầm tôi luôn luôn thủ thế, bước chân chậm rãi vì dè dặt. Tôi luôn luôn liếc nhìn ở hai bên và thỉnh thoảng quay về phía sau lưng nghe ngóng. Tôi linh cảm là có một điều gì đó sẽ xảy ra.

Rồi tôi nghe, từ sau lưng, trong bóng tối thăm thẳm của đường hầm. Ban đầu nhỏ sau lớn dần. Tiếng bước chân. Độc hành, giống như tôi. Khi tôi ngừng lại lắng nghe thì tiếng bước chân im bặt. Mình chỉ tưởng tượng thôi. Tự nhiên sao mình lại đâm ra nhát cáy như thế này. Tôi tiếp tục bước đi xa đường hầm. Tiếng chân lại vọng ra, như đang bước theo tôi. Tôi dừng lại. Tiếng bước chân nhanh hơn, rõ hơn. Từ trong bóng tối bước ra một người. Bóng người rõ dần. Tôi giật mình, thảng thốt.

“Noguchi!”

Anh lính, binh nhì, đang bước mạnh dạn, thấy tôi vội vàng buông súng, đứng nghiêm. Chào.

“Xin chào. Đại úy!”

Giọng anh ta sang sảng như vẫn còn đang ở trong hàng ngũ quân đội.

“Cậu đã…”

“Thưa Đại úy, em đã… Có phải em đã chết trong khi chiến đấu hay không?”

Noguchi bước đến gần tôi. Tôi sợ hãi lùi lại. Noguchi đứng đó, hình hài nguyên vẹn nhưng da anh ta trắng bệch, đôi mắt là hai hố đen ngòm, dáng vẻ của một xác chết biết đi. Tôi lùi thêm hai ba bước. Noguchi lại bước tới. Giọng của anh ta đầy vẻ uất ức.

“Em không thể tin là em thật sự đã chết. Em đã được giải ngũ và về đến nhà. Em ăn bánh nếp mẹ em làm dành riêng cho em. Em nhớ rõ ràng như thế.”

Anh ta bước tới, nói như hét. Tôi lại bước lùi xa hơn, bị dí vào chân tường của đường hầm. Khi không còn thể lùi được nữa, tôi cố lấy giọng bình tĩnh nói chuyện với Noguchi.

“Cậu đã kể tôi nghe chuyện này. Cậu bị bắn, và cậu ngất xỉu. Trong lúc tôi đang săn sóc vết thương cho cậu thì cậu tỉnh dậy rồi cậu kể chuyện được ăn bánh của mẹ làm.”

Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, Noguchi hơi nghiêng nửa thân người phía trên về hướng của tôi, chăm chú lắng nghe.

“Đó chỉ là giấc mơ cậu thấy trong lúc bị bất tỉnh. Câu chuyện nằm mơ của cậu sống động quá gây ấn tượng thật mạnh nên tôi không thể nào quên. Nhưng chỉ năm phút sau đó cậu trút hơi thở cuối cùng.”

Noguchi đứng thẳng người, trong tư thế báo cáo, dõng dạc nói:

“Em hiểu rồi. Đại úy! Nhưng bố mẹ em vẫn không chịu tin là em đã chết.” Nói dứt câu cậu binh nhì mím môi như muốn khóc.

Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời. Các sớ thịt trên mặt tôi co giật mạnh. Noguchi nhấc nhẹ súng lên, hai tay ôm súng vào ngực, hướng về phía núi xa xa, bước thẫn thờ về phía bên phải của anh ta, hai hố đen ở vùng mắt có ánh sáng lấp lánh.

Phía trước tầm nhìn của Noguchi, có ánh đèn thấp thoáng, chắc là của một làng sơn cước nào đó. Quay lại đối diện với tôi, tay chỉ về hướng ánh đèn, vẻ mặt thiểu não, giọng Noguchi thiết tha:

“Chỗ ấy là nhà em. Bố mẹ em ở nơi ấy vẫn hằng tin và mong chờ em về.”

Noguchi nghẹn ngào. Tôi bước đến gần. Chúng tôi đứng cách nhau không đầy một sải tay. Bóng lá của cây rừng phất phơ trong gió. Tôi lạnh, không biết vì gió thu hay hơi sương. Hay hơi lạnh của tử khí bốc ra từ Noguchi. Ánh mắt cậu ta như dại hẳn đi.

“Nhưng, sự thật là cậu đã chết. Tôi rất là đau lòng dù rất vụng về tôi vẫn phải nói sự thật. Cậu đã chết trên cánh tay tôi.”

Môi Noguchi run bần bật, cố kềm tiếng nấc. Cậu quay nhìn tôi bằng một vẻ thê lương tôi không thể nào tả được. Tôi nghĩ chỉ cần tôi đưa tay ra là cậu ấy sẽ ôm chầm lấy tôi và khóc trên vai tôi. Tay ghì cây súng Noguchi nhìn về hướng làng. Mím môi. Cúi đầu. Noguchi quay người hướng vào bóng tối trong đường hầm. Bộ quân phục, phía sau lưng của Noguchi vẫn còn đẫm vết máu. Noguchi thất thểu lê bước. Tôi gọi vọng theo.

“Noguchi.”

Noguchi quay lại bồng súng chào.

Tôi ném cái náp sắc xuống đường. Giơ tay ngang vành mũ chào đáp lễ. Noguchi buông súng xuống. Sự im lặng giữa hai chúng tôi dài như hằng tiếng đồng hồ. Noguchi quay đi, tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Noguchi mờ nhạt dần, khuất xa trong bóng tối.

Tiếng chân của Noguchi chưa mất hẳn thì tiếp theo là tiếng bước chân sầm sập của một đoàn quân sắp hàng như chuẩn bị lên đường ra trận. Tôi sợ hãi bước lùi mấy bước. Định thần nhìn cho kỹ đó là một đoàn quân xếp hàng ngang, mỗi hàng có sáu quân nhân, vừa đủ chật đường hầm. Tôi không biết có bao nhiêu hàng vì họ đứng khuất trong bóng tối của đường hầm. Theo mắt tôi có thể nhìn được thì toàn thể đại đội này đang sắp hàng có ít nhất là chín hàng, nghĩa là năm mươi bốn quân nhân cộng thêm người đại đội trưởng.

Đại đội trưởng cất giọng, quát to:
“Tất cả chuẩn bị. Chào Tiểu Đoàn Trưởng. Chào!”

Tất cả bồng súng lên chào. Đại đội trưởng giơ ngang thanh gươm chỉ xuống đất.

“Hạ súng! Xuống!”

Đại đội trưởng và tất cả quân nhân đều hạ súng đứng nghiêm.

“Đại đội Ba. Tất cả có mặt. Trình diện thượng cấp.”

Tôi nghẹn lời, nước mắt chực trào ra.

“Tất cả các bạn hãy nghe tôi nói!”

Tôi cố nuốt nước mắt.

“Tôi hiểu lắm. Suy nghĩ và cảm giác của các bạn. Tuy nhiên, toàn thể Đại đội Ba đã gục ngã trên chiến trường. Xin các bạn hãy tha thứ cho tôi. Tôi đã bảo toàn mạng sống của tôi. Tôi rất hổ thẹn đến độ không thể nhìn thẳng vào mắt các bạn, vì tôi đã không hoàn thành trách nhiệm bảo vệ sinh mạng của các quân nhân tùy thuộc quyền chỉ huy của tôi. Tôi có thể đổ thừa vào sự phi lý của chiến tranh hay sự nhẫn tâm của quân đội. Nhưng chối bỏ, lỗi lầm, sự do dự không dám quyết định, hay quyết định không chính xác của tôi, là một hành động hèn nhát.”

Tôi hít một hơi dài, cố nén cơn đau trào ra từ trái tim. Tôi đứng nhưng thật ra tôi muốn quì xuống trước mặt những người đã chết. Xin tạ tội. Và bày tỏ lòng kính phục sự hy sinh của họ.

“Tôi bị kẻ địch bắt, bị cầm tù. Đời sống trong tù đã cho tôi nếm đủ đòn đau đớn, cũng gần như cái chết. Và. Bây giờ. Khi tôi nhìn các bạn tôi lại trải nghiệm lần nữa những điều đau đớn ấy.”

Nước mắt tôi trào ra và chảy xuống mũi. Tôi nói để lấp đi tiếng nấc.

“So với cái chết của các bạn nỗi đau của tôi thật quá tầm thường. Nhưng tôi thành thật nói với các bạn điều này. Tôi ước gì. Tôi đã cùng chết với các bạn. Xin hãy tin tôi khi tôi nói những lời này. Tôi thông cảm với những oán hờn của các bạn. Chết trong trận mạc là cái chết tồi tàn như cái chết của loài chó! Nhưng xin hãy nghe tôi. Chẳng có gì tốt đẹp khi các bạn trôi lang thang vô định trong cuộc sống của loài người. Tôi van xin các bạn. Hãy quay lại. Quay về với bóng tối và an nghỉ muôn đời.”

Tôi đứng thẳng người, chỉnh đốn tư thế và quân phục. Rồi tôi dõng dạc ra lệnh.

“Đại đội Ba! Đằng sau! Quay!”

“Đằng trước! Bước!”

Đoàn quân sầm sập bước vào trong đường hầm. Tiếng kèn nhạc quân hành đâu đó trổi lên. Vang vọng. Xa dần. Khuất hẳn. Tôi đứng nghiêm chào cho đến khi đoàn quân và tiếng kèn không còn nghe thấy nữa. Tôi kiệt sức, phủ phục người trên mặt đất. Cơn đói ban chiều trở lại hành hạ tôi. Đêm càng khuya trời càng lạnh. Nếu tôi không đứng dậy đi tiếp tôi sẽ nằm xuống đây muôn đời.

Con chó quỷ bây giờ lại xuất hiện. Nó nhe răng, đỏ thẫm màu máu, có lẽ nó đang đói cần ăn thịt người. Tôi không biết đây là con chó thật sống sót sau chiến tranh, hay nó chỉ là một hồn ma không siêu thoát. Tại sao nó cứ theo sủa tôi, như sủa một tên trộm cướp, một kẻ hèn nhát. Người ta bảo rằng chó sủa ma; thế nhưng bao nhiêu oan hồn không siêu thoát xuất hiện lúc nãy nó chẳng kêu lên tiếng nào, mà bây giờ nó lồng lộn chực chờ xé xác tôi.

NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn “The Tunnel” trong tập phim Akira Kurosawa’s Dreams (Những Giấc Mơ của Akira Kurosawa). Đoạn phim youtube trên đây chỉ là phần cuối của đoạn phim. Rất tiếc là có rất nhiều đoạn giấc mơ của đạo diễn Kurosawa đã được upload lên youtube nhưng tôi không tìm được đoạn phim Tunnel đầy đủ, có vẻ như người xem không thích hay không chú ý đến đoạn phim này. Theo tôi đây là đoạn phim cảm động nhất trong tập phim.

Làng Cối Xay Nước

Trời xuân nắng vàng rực, khá ấm. Men theo con đường mòn, lần theo tiếng nước chảy róc rách, quẹo phải quẹo trái đôi ba lần tôi lạc vào một ngôi làng nhỏ bên suối. Con suối khá rộng, trong suốt, và có rất nhiều rong lả lơi theo dòng nước chảy mạnh. Bắc ngang con suối là chiếc cầu gỗ, đơn sơ nhưng chắc chắn. Bên kia cầu có dăm ba căn nhà, mái rạ, vách gỗ, nhỏ nhắn nhưng cứng cáp và sạch sẽ. Chung quanh nhà, dọc theo bờ suối, hay ở những hòn đảo nhỏ giữa dòng suối, chỗ nào cũng có hoa nhiều màu rực rỡ. Đỗ quyên màu tím và hồng, diên vỹ nước màu vàng, babybreath màu trắng li ti nở khắp nơi. Suối rộng, có chỗ cạn chỗ sâu. Ở những chỗ sâu, được dựng lên nhiều guồng bánh xe, chạy bằng sức nước chảy. Bánh xe quay kéo theo cỗ máy bên trong, dùng để xay lúa, thóc, làm thành gạo, hay bột. Người ta gọi đơn giản là cối xay nước.

Tôi đi thong thả, qua chưa hết cầu, bên kia bờ có một đám trẻ em đang nô đùa, chạy dọc theo dòng suối. Khi tôi đến gần cuối cầu thì các em cũng vừa chạy đến. Mỗi trẻ em cúi người hái vài đóa hoa mọc ven đường đến đặt vào một phiến đá gần bên cầu. Một chú bé dường như quên đã chạy xa rồi quay trở lại hái một đóa hoa vàng đặt lên tảng đá rồi lại chạy theo các bạn. Phiến đá này ở phía trên một mô đất cao. Chân cầu chỗ tôi đứng thấp hơn phiến đá một chút. Bước chân mạnh của các em làm rung nhẹ đoạn cầu nơi tôi đang đứng. Thấy tôi các em chào “Hello!” Các em vẫn còn ăn mặc theo kiểu người sơn cước, vải thô màu sậm dệt bằng tay, chân đi dép cỏ hay giày vải. Da các em rám nắng hồng hào khỏe mạnh.

Ông cụ ngồi sửa bánh xe cối xay nước trước nhà. Tôi chào.

“Chào cụ ạ!” Ông cụ mải mê làm việc chẳng nghe. Tôi lập lại, giọng to hơn. Lần này ông ngẩng đầu lên.

“Chào cháu!”

Ông đội mũ rơm còn mới, có cột dây màu đỏ. Da cụ đen xạm, nét rắn rỏi. Cụ mặc áo vải màu xanh nhạt gần giống như màu vải quần jean nhưng đây là loại vải dệt bằng tay. Râu và chân mày cụ bạc trắng như những ông tiên trong tranh. Dọc theo con suối có độ chục căn nhà, nhà nào cũng có cối xay nước.

Tôi lân la gợi chuyện.

“Làng này tên gì vậy cụ?”

Ông chậm rãi trả lời.

“Làng không có tên.” Ngừng giây lát, ông nói tiếp:

“Chúng tôi chỉ đơn giản gọi là ‘làng.’ Nhưng người sống ở ngoài làng, gọi chúng tôi là ‘Làng Cối Xay Nước.’ ”

Tôi nhìn chung quanh rồi nhìn vào bên trong nhà. Từ ngoài cửa nhìn vào, giữa nắng, bên trong nhà tối om. Gần bên cửa, treo lủng lẳng trên kèo nhà là một cái đèn dầu. Tôi hỏi:

“Người trong làng đều sống gần nhau cả, phải không thưa cụ?”

“Chúng tôi sống rải rác khắp nơi.”

Ông cụ trả lời nhưng vẫn chăm chỉ làm việc. Từ cổ tay đến hết bắp tay nhưng chưa đến khủyu tay ông có mặc một lớp vải màu sậm, như một loại găng tay, để chống trầy xước khi cụ sửa cỗ bánh xe gỗ của cối xay nước. Xem chừng ông không mấy hứng thú đưa chuyện, tuy thế tôi hỏi đến đâu thì cụ trả lời đến đấy. Thấy cái đèn dầu gần cửa ra vào, tôi hỏi:

“Làng mình không có điện, thưa cụ?”

Ông cụ ngước lên nhìn một thoáng lại cúi xuống với cái bánh xe, hí hoáy cột dây bện.

“Chúng tôi không cần những thứ ấy.” Ông nói chậm rãi từng câu, như nói một mình.

“Người ta dễ bị quyến rũ bởi những cái tiện lợi. Họ nghĩ rằng, ‘càng tiện nghi càng tốt,’ thế rồi họ đâm ra bỏ rơi những thứ thật sự quí giá.

Tôi nhìn ông chăm chú, không tránh khỏi thắc mắc:

“Thế cụ làm thế nào để tạo ra ánh sáng?”

“Chúng tôi dùng nến, dùng dầu thô, dầu mù u, dầu hạt cải.”

“Ban đêm như thế sẽ tối tăm lắm, phải không cụ?”

“Ban đêm thì phải tối thôi. Chúng ta sẽ khó chịu lắm nếu ban đêm sáng như ban ngày. Tôi không thích ban đêm nhiều ánh sáng quá vì tôi sẽ không nhìn thấy trời sao.”

Tôi thầm nghĩ ông cụ xem chừng lãng mạn gớm, nhưng ông cũng có lý. Thời bây giờ, ban đêm ở thành phố đèn sáng choang. Người ta làm nghiên cứu bảo rằng ở những nơi ban đêm có nhiều đèn, tỉ lệ người bị bệnh ung thư rất cao. Trong khi ông cụ nói tôi nhìn ra xa, thấy đồng ruộng xanh tăm tắp.

“Cụ ơi, cháu thấy làng mình có ruộng nhưng sao không thấy máy cày máy gặt?”

“Chúng tôi không cần dùng những thứ ấy. Chúng tôi có bò và ngựa.”

“Thế cụ dùng nhiên liệu gì?”

“Chúng tôi dùng củi. Để nấu ăn và sưởi ấm.”

Ông cụ nói giọng thân thiện, trầm ấm, nhưng vẫn chăm chỉ làm việc, thỉnh thoảng mới ngước nhìn lên.

“Chúng tôi không thấy thoải mái khi phải đốn cây còn sống, tuy nhiên cây chết ngã cũng khá nhiều. Phần lớn chúng tôi dùng những cây đã chết để làm củi. Và nếu nhốt củi làm than thì chỉ cần vài cây chết thì cũng đủ sưởi ấm như cả cánh rừng. Ngay cả phân bò cũng có thể được dùng để đốt.”

Tôi cảm thấy thật thanh nhàn khi ngồi nói chuyện với ông cụ. Chim hót ríu rít khắp nơi. Trời trong xanh, nắng ấm áp, suối chảy róc rách êm tai. Ông cụ thong thả nói tiếp:

“Chúng tôi cố gắng sống tự nhiên, như người xưa đã sống. Thời bây giờ, chúng ta quên rằng loài người là một phần của thiên nhiên. Người ta không thể sống thiếu thiên nhiên vậy mà người ta vẫn xâm phạm và phá hủy thiên nhiên. Họ cho rằng họ có thể sáng tạo ra những thứ tốt đẹp hơn, nhất là các nhà khoa học. Có thể là họ rất thông minh, nhưng đa số họ hoàn toàn không biết lắng nghe nhịp đập trái tim của thiên nhiên. Họ đã vất vả phát minh nhiều sáng kiến chỉ khiến loài người thêm bất hạnh rồi tự vỗ lưng khen mình tài giỏi. Càng tệ hại hơn là phần lớn loài người xem những sáng kiến ngu ngốc này như là phép mầu rồi tuân phục chúng. Họ không thấy rằng thiên nhiên bị giết chết và loài người tiến dần đến chỗ tự hủy diệt. Những thứ quan trọng nhất cho loài người chính là không khí sạch và nước sạch, và các loài cây cỏ để giữ cho không khí và nước trong lành. Loài người làm ô nhiễm môi trường và nó sẽ biến mất mãi mãi. Không khí bẩn và nước bẩn sẽ làm ô nhiễm tâm hồn của con người.”

Tôi lắng nghe ông cụ độc thoại, mắt nhìn cảnh đẹp chung quanh. Hoa nở đủ thứ màu sắc khắp nơi. Trông hoa tôi chợt nhớ một điều.

“Thưa cụ, lúc mới đến cháu thấy các em bé hái hoa đặt lên phiến đá. Tại sao các em làm thế?”

“Ồ, cái đó hả? Tôi nghe ông bố tôi, cụ đã qua đời, kể lại là…”

Lúc nãy tôi đã đứng lên, định tiếp tục đi thăm làng, nghe giọng ông cụ, tôi đoán là câu chuyện chắc là thú vị, nên ngồi xuống nghe tiếp.

“Hồi xưa, lâu lắm rồi, có một du khách đi ngang làng. Ông ta bệnh và chết ở bên bờ suối, ngay chỗ có phiến đá. Người làng thấy tội nghiệp nên chôn cất tử tế. Họ đặt phiến đá làm mộ bia và dâng cúng hoa. Lâu ngày điều này trở thành phong tục của làng. Không phải chỉ có trẻ em dâng hoa, ngay cả người lớn mỗi khi đi ngang cũng dâng hoa, dù lâu ngày chẳng mấy ai còn hiểu tại sao lại làm như thế.”

Ông lão xoay xoay bánh xe của cối xay nước, có vài chỗ gỗ bị hư ông thay thế bằng ống tre. Xa xa có tiếng nhạc rộn ràng. Tôi hỏi:

“Hôm nay trong làng có lễ hội gì đấy cụ?”

Ông lão lấy tay khum ở sau vành tai, cố gắng lắng nghe, rồi trả lời:

“Lễ hội gì đâu. Đám tang đấy. Chắc là cháu ngạc nhiên và cho là kỳ quái, nhưng đám tang ở đây là một ngày hội vui.”

Tôi nhìn lảng sang chỗ khác sợ bị cho là vô lễ, nhưng quả tình ông đoán trúng ý nghĩ của tôi. Ông cụ giải thích:

“Chúng ta nên sống cho đáng, làm việc chăm chỉ, sau đó tự khen mình đã làm việc tốt. Làng chúng tôi không có chùa chiền nhà thờ hay tu sĩ, vì thế dân làng cùng nhau đưa người chết lên nghĩa trang trên đồi. Dĩ nhiên nếu người chết là trẻ em thì là chuyện khác. Chúng tôi không thể xem đó là chuyện vui. Nhưng cũng may là người làng chúng tôi thường chết già, ai ra đời trước đi trước. Bà cụ qua đời hôm nay qua đời yên lành ở cái tuổi ngót nghét một trăm.”

Ông đứng dậy.

“Cháu nói nên tôi mới nhớ. Tôi phải đi dự đám tang. Cho tôi xin kiếu nhé”

Chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa, cụ quay sang mỉm cười nói với tôi:

“Nói thật với cháu, bà ấy là mối tình đầu của tôi. Nhưng bà đạp nát trái tim tôi bằng cách đi lấy người khác.”

Ông đi vào nhà, nét mặt vẫn vui tươi, vừa đi vừa ngâm nga trong cổ một điệu nhạc vui nhộn. Tôi hướng về nơi có tiếng nhạc càng lúc càng đến gần. Nghe sau lưng có tiếng nhạc tôi quay lại. Ông cụ đã thay trang phục. Phủ bên ngoài lớp áo màu xanh lam như vải jean là một cái áo khoác, gần giống như cái tạp dề của các đầu bếp hay họa sĩ, màu đỏ tươi tắn. Chân của cụ cũng mang giày bện bằng vải, chung quanh ống chân cũng cột vải. Giày cũng cùng màu với áo khoác. Trông cụ như ăn vận cho một ngày lễ hội tưng bừng.

“Cho phép cháu hỏi cụ câu này, năm nay cụ được bao nhiêu tuổi?”

“Tôi à? Tôi được một trăm lẻ ba. Tuổi này phải nói là khá thọ cho loài người. Cháu thấy đó, loài người hay than phiền là cuộc sống quá khổ ải. Toàn là nói tướng lên cho sướng mồm. Thật ra, còn sống là điều rất tốt.”

Cụ cúi xuống ngắt một nhánh hoa đỗ quyên màu hồng thắm. Tay phải của cụ đang cầm một cái lục lạc, cụ lắc leng keng, tiếng nhạc thật vui tai. Tay trái cụ phe phẩy nhánh hoa theo tiếng lục lạc.

Đoàn đám tang đã đến rất gần. Ban nhạc đám tang thật lớn, nhiều kèn, nhiều trống, nhiều lục lạc. Tiếng kèn tuba hòa quyện với tiếng trombone nghe thật hùng hồn nhưng không thể che lấp tiếng tambourine. Sáu người khiêng một cái kiệu phủ tấm khăn kết bằng vải nhiều màu. Các cô gái trong làng đội mũ có kết hoa, áo đỏ, yếm đỏ, giày đỏ, tay cầm hoa, tay rung lục lạc, vừa đi vừa hát và nhảy múa. Trẻ em dẫn đầu đoàn người đưa tang, đi đến đâu các em rải hoa đến đó. Các chàng trai cũng ăn vận sặc sỡ, người ôm kèn, kẻ mang trống. Không ai ngờ rằng đây là một đám tang. Người trong làng Cối Xay Nước, khi sống cuộc sống đầy vẻ thanh bình. Khi chết, cái chết xem chừng cũng là một niềm vui, hạnh phúc.

Ông cụ chờ đoàn người đến gần rồi nhập cuộc. Cụ đi trước, vung vẩy hoa và lục lạc theo tiếng nhạc. Tôi đứng ngẩn người nhìn theo. Khi đám tang đi rồi tôi quay trở lại ra khỏi làng. Trước khi đi, chợt nhớ ra, tôi quay trở lại dâng một đóa hoa lên bia mộ.

Rồi tôi tỉnh giấc.

Ghi chú: “Tôi” trong bài là tên của nhân vật (hay Kurosawa) trong tập phim “Dreams of Kurosawa” (Những Giấc Mơ của Kurosawa) bao gồm nhiều đoạn phim ngắn. NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn tựa đề là “The Village of Watermills” (Làng Cối Xay Nước). Dịch là Cối Xay Nước (Watermill) để phân biệt với cối xay gió (windmills)

 

Chủ Nhật mùa đông

Ảnh cũ đăng lại.

Chủ nhật mùa đông thì ở trong nhà không đi đâu hết. Hôm qua tuyết rơi đến tối, dày khoảng hơn một tấc. Tuyết bám đầy các cây đại thụ, cây thông trông rất đẹp. Khéo chụp ảnh có thể biến cảnh đẹp thành ảnh của lịch hay thiệp Giáng sinh. Chắc là trưa nay sẽ giúp ông Tám dọn tuyết. Không thấy hứng chụp ảnh tuyết nữa. Muốn ra ngoài là phải mặc áo ấm đội mũ đeo găng. Ở trong nhà thì cửa sổ rất bẩn làm ảnh mờ. Đêm qua Boyfriend không về chỗ ngủ có lẽ vì tuyết lấp hết lối đi.

Thứ Bảy hôm qua nhờ trời tuyết ở nhà tôi xem phim bất tận. Cô út giới thiệu mấy lần tôi không xem, nhưng cuối cùng hết phim mượn của thư viện tôi đồng ý xem với cô phim Swiss Army Man, Daniel Radcliff và Paul Dano đóng vai chính. Không biết nói sao về phim này. Phim vừa bi vừa hài. Có tính sáng tạo và avant-garde. Hài hước nhưng tục, cách tục rất ấu trĩ như là trẻ con. Có khuynh hướng đồng tính luyến ái của đàn ông. Phim cũng nói lên cái cô độc của những người trẻ tuổi không được gia đình yêu thương và xã hội chấp nhận. Dĩ nhiên bạn sẽ không còn thấy hình ảnh của Harry Potter. Radcliff cố gắng rất nhiều để trở thành một diễn viên nghiêm túc, muốn cởi bỏ hình ảnh Potter anh đã khoác lên người nhiều năm nay.

Tôi xem một phim tài liệu về những người làm phim. Một nhà làm phim nổi tiếng (tôi quên tên) đã nói, ông bỏ ra 95 phần trăm cuộc đời để đi tìm nguồn tiền cung cấp cho ông làm phim, và 5 phần trăm để thực hiện phim. Phim tập hợp những người nổi tiếng như Scorcese, Bertolucci, Alec Baldwin, và có cả Ryan Gosling trả lời phỏng vấn ở cuối phim.

Phim Chicken With Plums là một phim ngoại quốc nói tiếng Pháp phụ đề Anh ngữ. Tôi xem phim này với mục đích tìm một cái gì đó đặc biệt để viết về năm con Gà. Đây là một phim Persian (Iran). Món gà nấu với trái mơ/mận là món ăn mà một nhân vật trong phim rất thích. Phim này thuộc loại bi kịch kiêm hài kịch. Nhân vật chính Nasser-Ali chán đời nên muốn chết. Chàng thành công với việc tự tử trong tám ngày. Và trong tám ngày cuối cùng, cuộc đời của chàng được diễn ra trong cuốn phim. Một nhạc sĩ vĩ cầm có tài, được học hỏi với vị thầy giỏi, yêu một người, cưới người khác, cây đàn của vị thầy truyền từ đời này sang đời khác, bị người vợ đập vỡ trong cơn giận điên cuồng, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, thời cuộc, nghèo khó, tài năng bị hủy hoại, đưa đến sự thất chí của nhân vật. Món thị gà nấu mơ chỉ được nhắc đến thoáng qua, khi người vợ nấu món ăn chồng ưng ý mang vào phòng cho chồng. Anh chàng nằm chờ thần chết. Và chàng nói thẳng với người vợ là anh chưa bao giờ yêu nàng, khi nàng xin lỗi chồng vì đã đập vỡ cây đàn. Phim bớt nặng nề nhờ những màn hài kịch.

Tôi xem Grand Piano và Guy and Madeleine on a Park Bench do Damien Chazelle đạo diễn. Grand Piano có cốt truyện hay, hào hứng. Hai diễn viên nổi tiếng, John Cusack và anh chàng đóng vai Frodo trong phim Lord of the Rings, quên mất tên.  Phim Guy thì tôi chỉ xem nửa chừng vì chán. Cả hai phim đều là phim âm nhạc, Guy and Madelein về jazz.

Jiro nằm mộng sushi

kuruma-ebiakami

Ở nhà một mình, tôi xem phim no nê. “Black Fish,” “Jiro Dreams of Sushi,” “The Men Who Tread on the Tiger’s Tail”và “The Power of Myth.”

“The Power of Myth” (Sức mạnh của huyền thoại) dịch nôm na là sức mạnh chứ nếu bạn thích thì cứ gọi là sức thu hút hay quyến rũ của huyền thoại thì chắc chẳng ai bắt bẻ gì. Đây là một bộ phim gần như là giáo dục, do Bill Moyer phỏng vấn Joseph Cambell, một Giáo sư chuyên về huyền thoại nổi tiếng với quyển Hero and the Thousand Faces.

“The Men Who Tread on Tiger’s Tail” là phim thuộc nhóm samurai (võ sĩ đạo Nhật Bản). Nếu bạn thích loại phim samurai bạn sẽ thích phim này. Sáu võ sĩ, trong đó có một thiền sư, hộ tống một vị Lãnh Chúa (Lord) vừa bị mất ngôi vượt qua một cửa ải của quân địch.

“Black Fish” là phim tài liệu về những con cá orca (whale killer) được nuôi để biểu diễn trong Disney World. Phim rất hay, và cảm động. Bạn sẽ thấy những người đàn ông ứa nước mắt khi nói về loài cá thông minh bị giam cầm và ngược đãi, đi ngược lại với cách sống tự nhiên trong biển. Cá con bị bắt đưa đi chỗ khác, cá mẹ kêu khóc thống thiết một thời gian khá lâu. Phim cũng nói về sự gian dối của những người chủ nhân Disney World khiến người tham gia diễn những chương trình với cá đi đến chỗ mất mạng.

“Jiro Dreams of Sushi” là phim tài liệu về Sukiyabashi Jiro, một bậc thầy kiêm chủ nhà hàng sushi nổi tiếng ở Tokyo. Tôi đã xem phim này từ lâu nhưng không nhớ, bây giờ xem lại thấy thú vị. Người xem sẽ được đưa đi xem chợ cá nổi tiếng nơi người ta bán cá đấu giá họ rao nghe như hát. Phim có nhiều câu nói rất hay có thể trích dẫn trong những bài báo dạy học sinh chọn ngành nghề. Ít nhất bạn sẽ chú ý đến câu này:

Jiro: “Once you decide on your occupation… you must immerse yourself in your work. You have to fall in love with your work. Never complain about your job. You must dedicate your life to mastering your skill. That’s the secret of success and is the key to being regarded honorably.”

Khi mà bạn đã quyết định chọn nghề. . . bạn phải thấm nhập vào công việc. Bạn phải yêu công việc. Không được than phiền công việc của mình. Phải dâng hiến cuộc đời mình trong việc học hỏi cho nghề nghiệp tinh nhuệ. Đó là bí quyết của thành công và là chìa khóa để được kính trọng.

Tôi thì thích một đoạn ở chương thứ Tám. Nhà phê bình ẩm thực Masuhiro Yamamoto đã nói:

“When I ate the sushi, I felt like I was listening to music. Jiro’s sushi course is like a concerto. The meal is divided into three movements. Classic items, like tuna and kohada, are presented in the first movement.
The items in the second movement are fresh catches of the day.
The second movement is like an improvisation. It’s like a cadenza.
In the third movement, sea eel, kanpyo and egg comprise a traditional finale.”

“Khi tôi ăn sushi, tôi có cảm tưởng như đang nghe nhạc. Sushi của Jiro như là một bản concerto. Bữa ăn được chia ra thành ba đoạn. Những món sushi quen thuộc như tuna và kohada được dọn trước như đoạn mở đầu.”
Những món được dọn trong phần thứ nhì, đoạn chính của bài nhạc, là các loại hải sản thủy sản tươi bắt được trong ngày.
Phần thứ nhì tương tự như một đoạn nhạc được tấu tùy theo hứng khởi. Một đoạn độc tấu nhấn mạnh bài nhạc.
Trong phần cuối, lươn biển, kanpyo và trứng đúc nướng, là tấu khúc kết cục truyền thống. 

Giữa những câu nói là tên của những món sushi được đặt trên một cái đĩa màu sậm rất đẹp. Tôi thích ăn sushi nhưng chỉ ăn được món nấu chín, không mạnh miệng với cá hay mực, bạch tuột còn sống. Nhà hàng chỉ có mười chỗ ngồi, muốn ăn phải đặt trước một tháng, hai mươi món sushi, giá chót là 30 ngàn yen, khoảng hơn 280 Mỹ kim.

Hai cái ảnh bên trên lấy từ trong phim. Tựa đề lấy từ lời kể của ông chủ nhà hàng kiêm sư tổ sushi, ông yêu nghề đến nỗi nằm mộng thấy sáng tạo ra những món sushi. Đã 85, có lần bị bệnh tim vật ngã, nhưng ông vẫn chưa chịu về hưu giao nhà hàng cho con trai cả đã năm mươi tuổi (năm cuồn phim ra đời).

 

Xem phim The Insect Woman

Phim của đạo diễn Shohei Imamura. Kèm theo cuốn phim có lời bình của Dennis Lim. Ông Lim nói Imamura học nghề với đạo diễn Yasujiro Ozu. Cả hai đạo diễn này đều có tính chất Nhật Bản rất đậm nét, nhưng hai người ở hai thái cực trái ngược nhau.

Đây không phải là một phim dễ xem, dễ tán đồng. Có những đoạn phim làm tôi thấy khó chịu, với một chút ghê tởm. Nó làm tôi suy nghĩ về thị hiếu của tôi, về cái mức độ chấp nhận những khuôn mẩu nghệ thuật của truyền thống văn hóa phụ hệ. Cuốn phim này nếu đem phân tích theo quan điểm nữ quyền chắc chắn có nhiều điểm hay. Qua cuộc đời của nhân vật chính, Tomé Matsuji, đạo diễn đưa ra nhiều điểm cho tôi suy nghĩ về thân phận của phụ nữ Nhật Bản. Mở đầu phim là một bài hát, có lẽ là một bài dân ca.

O-wa-i-ya-re
Where, oh where
Has the baby-sitter gone?
She went to town to buy a dog
She’ll be back soon
If you don’t sleep
the mice will scamper over you
If you stay awake
the nightjars will fly off with you

O-wa-i-ya-re
Đâu, đâu rồi
Người giữ trẻ đi đâu?
Nàng đi xuống chợ để mua một con chó
Sẽ trở lại không lâu đâu
Nếu mà mi không ngủ
Con chuột sẽ bò lên người mi
Nếu mà mi thức
Con cú muỗi sẽ tha mi đi

Trong phim có nhiều bài thơ ngắn, của Tomé viết trong nhật ký. Tôi lười quay lại từ đầu để chép, (tính học làm thơ) nhưng mất thì giờ quá.

Tomé, nhân vật chính, và những người phụ nữ khác trong cuốn phim, được Imamura miêu tả yêu thích tình dục. Họ không đè nén, chay tịnh, đoan trang như đàn bà trong luân lý Khổng Mạnh. Tomé ở nơi hoang dã, rừng núi, nghèo khó, sớm biết mùi tình dục. Nàng bị hiếp, đặt tình yêu không đúng chỗ, có con hoang. Bản thân nàng cũng là con hoang được nuôi dưỡng săn sóc bởi một người đàn ông khờ khạo, tâm thần như trẻ con, tên là Chuji, là cha nuôi hay bố dượng của nàng. Khi Tomé bị một mụn nhọt trên đùi, gần hạ bộ, người thầy thuốc chữa bệnh cho nàng đã mút chất mủ trong mụn nhọt. Hành động này gây khoái cảm cho nàng, và gã đã vào giường với nàng. Tomé yêu một người có vợ. Khi hắn được lên chức phụ tá quản đốc trong hãng dệt nàng cùng làm với hắn, thì hắn bỏ rơi nàng, đồng thời nàng bị mất việc vì trước đó nàng họat động trong công đoàn để hỗ trợ hắn. Có thai, sinh con ra, nàng bỏ đứa bé lại cho Chuji nuôi còn nàng vào thành phố tìm việc làm. Cuộc đời đưa đẩy, nàng làm điếm, trở thành tú bà, nhân tình cũng là dụng cụ của một anh chủ mối (ma cô) rất giàu.

Phụ nữ trong phim Imamura rất mạnh mẽ. Trước sóng gió cuộc đời, họ chịu đựng và tìm cách trồi lên. Họ dùng mánh khóe, thủ đoạn để sống còn. Họ bị đàn ông cưỡng hiếp, lợi dụng, đánh đập nhưng khi có dịp họ cũng lường gạt, dùng nhan sắc, tuổi trẻ, bán mua thân xác, rút rỉa hầu bao, đàn ông. Họ có lúc cứu vớt những phụ nữ sắp chết chìm nhưng sau đó lại lợi dụng thân xác những người phụ nữ trong cơn tuyệt vọng như họ đã từng.

Đặt tên phim The Insect Woman, phải chăng Imamura ám chỉ số phận người phụ nữ  như côn trùng, như con giun cái dế, chúi nhủi trong đất cát, phải trồi lên để thở để sống? Qua phim này người xem cũng thấy quan điểm xoay vần, hại người thì người hại, cuộc đời là một sự tiếp diễn vòng tròn. Họ giúp nhau, lợi dụng nhau, ghét nhau, yêu nhau, già nuôi trẻ, trẻ nuôi già. Lần đầu tiên tôi xem một phim Nhật mà trong đó có hai người đàn ông khờ khạo. Họ được yêu thương bởi hai người đàn bà sương gió dạn dày bởi vì chính lòng chân thành trong sự khờ khạo của họ. Hai người đàn ông đần độn lại chính là người nuôi dưỡng đứa bé không phải là con của họ để người mẹ của đứa bé có thể đi xa và tìm cách sống.

Cuốn phim còn có tên là Pigs, Pimps, and Prostitutes, được xem là iconoclast, phá hủy thần tượng, đàn ông thì dâm ô, ngược đãi phụ nữ, đàn bà thì làm điếm để nuôi thân và nuôi con. Phim nằm trong Criterion Collection, ra đời năm 1963, cho thấy một xã hội Nhật Bản với những nét khốc liệt văn hóa từ cuối thập niên thứ mười cho đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhì với những vay trả, trả vay của cuộc đời, trong đó người đàn bà có khi là con chốt, có khi là nữ hoàng.