Viết thêm

Hôm trước, hỏi mình nhạc jazz là gì. Nhiều khi nghe nhạc jazz mà không biết là nhạc jazz. Sáng nay sực nhớ ra có hai bài, mình biết là nhạc jazz, đã đăng lên blog để nghe, nhưng quên nhắc đến. Đó là bài “Nature Boy” và “If I Didn’t Care.”

“Nature Boy” có nhiều người hát. Nat King Cole và sau này Celine Dion. Tác giả là eden ahbez, ông này nhất định viết tên mình bằng chữ lower case. Nhạc sĩ viết tiếng Yiddish Herman Yablokoff kiện ahbez cáo buộc tội đạo nhạc, hai bên thỏa thuận một số tiền bên ngoài tòa án. Ngoài ra có người bảo rằng ahbez mượn đỡ một đoạn nhạc của Antonin Dvorak – Piano Quintet No. 2 in A, Op. 81. Bài này xuất hiện ở nhiều phim The Talented Mr. Ripley và Moulin Rouge.

“If I Didn’t Care” xuất hiện trong phim “Miss Pettigrew Lives for a Day” và “The Shawshank Redemption.”

Còn nhiều nữa nhưng tôi chỉ ghi chú lại đây một chút để dành cho mai mốt.

Jazz in the garden 4

Sở dĩ có mấy cái post jazz là gì, rồi jazz trong phim ảnh và văn học là tại vì tôi đi xem Jazz in the garden hằng tuần. Đây là tuần thứ tư, mới xem hồi thứ Năm vừa qua. Tôi đến trễ, không còn chỗ trong bóng mát. Thấy có chỗ trống ngồi vào thì bà cụ bên cạnh nói, người ta bỏ ghế này vì bị cây cột chống lều, và cái máy khuếch đại âm thanh án ngữ. Bạn đọc tha thứ cho những tấm ảnh này. Tôi nhận ra cái shyness của tôi làm tôi trở nên què quặt nhiều mặt. Tôi không dám đứng ra giữa sân để chụp ảnh như những người chụp ảnh. Ngay cả đứng lên để chụp ảnh tại chỗ tôi cũng thấy ngượng ngùng, có cảm tưởng người ta nhìn mình, nhìn cái búi tóc bạc giấu sau cái mũ, nhìn cái lưng đã bắt đầu có dáng hơi còng.
toàn ban nhạc Cocomama
Đây là ban nhạc Cocomama. Ban nhạc có chín người, nhưng người chơi đàn bass bị che khuất sau các nhạc sĩ, ca sĩ, và cái loa. Tôi nghe tiếng bass đệm và đôi khi độc tấu nhưng không thấy người, ban đầu ngỡ là người chơi piano đệm theo bắt chước tiếng bass. (Tại không rành âm nhạc nên muốn tưởng sao thì tưởng) 🙂
quả bầu làm nhạc cụ
Ban nhạc này được giới thiệu là All female Latin Jazz group. Nửa phần đầu họ trình diễn nhạc Cuba. Sau đó họ hát nhạc của Peru và có bài nhạc tiếng Anh. Có lẽ đây là bản nhạc rất phổ biến nên tôi nghe khán giả phía sau lưng tôi hát theo. Vì là nhạc Cuba và châu Mỹ Latin nên họ có vài loại trống. Ảnh này là quả bầu được dùng làm nhạc cụ. Sau lưng người ca sĩ này là một cặp trống có chiều cao đến bụng. Tôi nghĩ thiếu tiếng trống chắc khó truyền đạt âm nhạc châu Mỹ Latin. Tôi rất yêu tiếng trống trong âm nhạc, cố gắng phân biệt tiếng trống của các quốc gia Ả Rập, nghe thì có thể phân biệt nhưng diễn tả bằng ngôn ngữ thì bất khả.
drummer and percussionist
Đây là hai nữ nghệ sĩ đánh trống. Ban nhạc toàn nữ này mang cho tôi cảm giác rất đặc biệt. Khâm phục họ và họ đáng tự hào. Và nhận ra thế giới ngoại quốc có dành chỗ cho nữ giới. Không được rộng rãi như chỗ của nam giới, nhưng họ cũng tạo ra một chỗ đứng cho họ. Cô gái đánh trống này thật là xinh đẹp, và tôi yêu cái mũ đàn ông của cô.
volunteer dancers
Hôm ấy là một ngày mùa hè đẹp tuyệt vời. Không nóng lắm và có gió hiu hiu. Trời xanh với những cụm mây trắng lười biếng bay. Tôi không muốn trở về chỗ làm. Ngồi nghe nhạc và nghĩ đến những câu thơ.

Dẫu rằng người có phụ tôi.
Thì mây vẫn trắng thì trời vẫn xanh.

Được hai câu thì bí rồi nên tiếp tục nghe nhạc. Tôi yêu nhạc vùng Caribbean và tiếng trống kể từ khi tôi nghe bài Kiss The Girl trong The Little Mermaid. Tiếng trống rộn ràng, rạo rực. Những nhà nghệ sĩ của ban nhạc Cocomama, chơi những bản nhạc nhanh vui theo điệu Salsa nên nhiều người ngứa ngáy đôi chân. Khi họ được khuyến khích ra sân khiêu vũ thì họ ra ngay. Đây là những người khiêu vũ với những bước rất đẹp mắt. Cách họ uốn éo di chuyển chứng tỏ có một thời họ làm chủ sàn nhảy nào đó. Nhìn cái lưng của người phụ nữ áo đen và mái tóc cắt ngắn rất khéo tôi có cảm tưởng nàng là người Á châu. Nhảy đẹp lắm.
một cặp khiêu vũ
Đứng chật sân nhưng chỉ toàn là phụ nữ. Khi ông này lên khiêu vũ với bà này, khán giả vỗ tay um sùm. Sau lưng tôi là một ông cụ. ông hát theo ca sĩ và tiếng đàn, giọng trầm hơi khàn, mỗi lần nghe một đoạn nhạc hay ông kêu lên Ô lê, Ô lê, Ô lê, đôi khi ông “hum” (âm thanh ngậm lại trên môi không phát ra thành tiếng) ông sành âm nhạc lắm a.

Tôi hoàn toàn không biết nhạc lẫn lời. Chỉ ngồi đó nghe âm thanh và giai điệu. Khi họ hát những bản nhạc jazz chậm, tôi đoán lời hát chắc phải não nuột lắm, nhưng âm thanh điệu nhạc vẫn dồn dập rộn rã. Nhạc vẫn vui dù lời hát có buồn. Với âm nhạc, một buổi trưa hè như thế này, dù có bị tình phụ thì trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, mình vẫn sống nhăn. Tình phụ, đó là sự tưởng tượng của một người ôm mộng làm dzăng sĩ. Chứ tình phụ xảy ra hồi mấy chục năm về trước kia.

Jazz trong phim ảnh 2

Hôm qua tôi thắc mắc không biết phim The Great Gatsby, version 1974, hai diễn viên chính là Redford và Farrow, có phản ánh đúng với nhạc jazz vào thập niên 1920 hay không. Thắc mắc thì tự đi tìm câu trả lời.

Những năm 1920, Hoa Kỳ đang hồi phục sau thế chiến thứ nhất chấm dứt thời kỳ đại khủng hoảng kinh tế (Great Depression). Đó là thời kỳ jazz age, nhạc jazz đang hồi hưng thịnh, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở Anh và Pháp. Không những jazz mà văn học thời ấy cũng huy hoàng. Cuộc sống ở Hoa Kỳ đắt đỏ hơn ở Pháp. Người da đen ở Hoa Kỳ thời bấy giờ vẫn còn bị kỳ thị chủng tộc nên các hoạt động nghệ thuật vẫn còn gò bó với các nghệ sĩ trình diễn. Rất nhiều văn nghệ sĩ Hoa Kỳ sang sống ở Pháp như Ernest Hemingway, Francis Scott Fitzgerald, Gertrude Stein, Josephine Baker, … Josephine Baker là nữ nghệ sĩ trình diễn, bộ môn hát và khiêu vũ. Cảm thấy bị gò bó qua phong cách trình diễn, và không được quí trọng vì bà là người da đen, bà sang Paris sống. Nơi đây tên tuổi của bà trở nên lẫy lừng khắp thế giới. Cole Porter là nhạc sĩ jazz, đồng tính luyến ái cũng sống ở Paris. Có lẽ còn nhiều nhạc sĩ jazz nữa nhưng tôi không biết. Tất cả những tên của các văn nghệ sĩ tôi vừa nhắc qua đều được nhắc đến trong phim Midnight in Paris.

Chiều qua tôi đến thư viện mượn phim The Great Gatsby năm 1974. Thêm một chút thất vọng vì phim này bị chê là không tôn trọng đúng mức tinh thần nhạc jazz trong thời đại vàng của nhạc này. Nếu tôi có thất vọng vì không tìm thấy nhạc jazz của thập niên 20 trong hai phim The Great Gatsby thì tôi được đền bù trong phim Midnight in Paris. Toàn cái soundtrack của Midnight in Paris là các nhạc phẩm được trình bày bởi các nhạc sĩ jazz (người da đen) nổi tiếng như Duke Ellington, Billy Strayhorn, … Phim này làm tôi hầu như có cảm tình với Woody Allen trở lại, một phần nào. Phim của Allen có nét lãng mạn, nhưng tôi không ưa cách đối thoại “lắp bắp” của ông.

Có hai phim tôi đã xem, đưa cuộc đời của các nhạc sĩ jazz vào phim, “Young Man With A Horn” và “Paris Blues.” Cả hai phim đều nói về nhạc sĩ Jazz người da trắng, nhưng phim Paris Blues có Sidney Poiter là nhạc sĩ người da đen. Young Man With A Horn do Kirk Douglas đóng vai chính, phim dựa trên cuộc đời của Bix Beiderbecke. Phim ra đời năm 1950 có lẽ vào thời kỳ ấy người ta không dãm nghĩ đến việc làm phim về nhạc sĩ da đen. Mãi đến năm 1961 khi phim Paris Blues ra đời chúng ta mới thấy sự xuất hiện của diễn viên Sidney Poiter đồng thủ vai chính với Paul Newman. Trong phim Paris Blues tôi thấy có Louis Amstrong và một vài nhạc sĩ người da đen khác. Sound track của Paris Blues được Duke Ellington đảm nhiệm kiêm trình tấu.

Tạm ngừng để đi làm.

Nhạc Jazz là gì?

Mấy năm trước, tôi đăng bản nhạc hòa tấu cổ điển, một bạn đọc đi ngang, đã lên tiếng. Theo ý bạn loại nhạc này sang trọng, là nhạc nhà giàu, thời thượng. Bạn ấy chỉ nghe và thích nhạc cổ điển dân tộc Việt Nam, những điệu hò, điệu lý, đàn bầu, đàn tranh. Tôi cũng thích nhạc này nhưng không luôn tìm được để nghe.

Là một người khá nhạy cảm, hay quan sát nội tâm, tôi tự hỏi có phải mình nghe bằng chính cái thành kiến của mình không. Tôi có cảm tưởng bạn nghĩ tôi là người vọng ngoại, tôn thờ văn hóa nước ngoài, chỉ là một thứ học làm sang.

Mới đây khi tôi kể chuyện đi xem nhạc jazz, có bạn cho rằng cần phải có chút tinh tế và nghệ sĩ tính để thưởng thức nhạc jazz. Tôi lại cẩn thận nhắc mình, đừng nghe bằng thành kiến của mình. Tôi không (luôn luôn) vọng ngoại, không học làm sang, không (tuyệt đối) tôn thờ văn hóa nước ngoài. Tôi đang từng ngày và từng bước, tìm hiểu cuộc sống chung quanh mình, mở cửa tâm hồn để tiếp nhận văn học nghệ thuật nơi tôi đang sống. Mấy mươi năm quanh quẩn với cơm áo gạo tiền, bây giờ tôi mới có dịp để ý đến nền văn hóa hiện diện chung quanh tôi.

Jazz có phải là loại nhạc dành cho những người giàu có sang trọng, hay đặc biệt chỉ dành cho những nhà nghệ sĩ tinh túy không? Tôi muốn kêu to rằng, không! Nhạc jazz phát xuất từ người Mỹ gốc châu Phi làm sao là nhạc nhà giàu cho được.

Người châu Phi, bị bắt sang châu Âu và châu Mỹ làm nô lệ, đời sống của họ đầy những bất hạnh, nghèo khó, đau khổ, và tối tăm. Nhạc của họ là những bài hát nói về những cuộc tình tan vỡ, bội bạc, và họ nhận chìm đau thương trong men rượu. Nhạc cụ của họ thường chỉ có một cây đàn guitar hay một cái kèn đồng. Ngay cả sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ cuộc sống của những người nghệ sĩ da đen vẫn nghèo khó rày đây mai đó, từ hộp đêm này sang hộp đêm khác. Dăm ba người nghệ sĩ, vài ba cây kèn đồng, giàn trống về sau họ có thêm piano gia nhập. Nhạc jazz làm tôi nghĩ ngay đến những quán rượu về đêm, khói thuốc mù mịt, tiếng kèn khàn khàn, giọng ca sĩ nhừa nhựa mụ mị. Đó là những hình ảnh tôi nhìn thấy trong phim chứ nhạc jazz trong phòng trà hộp đêm có từ thời tôi chưa ra đời và từ khi sống ở Hoa Kỳ tôi chưa hề biết cái hộp đêm nó ra làm sao. Tôi đoán bạn cũng như tôi, nhiều khi nghe nhạc jazz mà không biết đó là nhạc jazz.

Nhạc jazz là gì? Tôi nghĩ nghe một bản nhạc tôi có thể nói một cách do dự, bản này, cách trình tấu này nghe giống như nhạc jazz. Tôi không chắc là nếu bạn cho tôi nghe một bản nhạc lạ, tôi có thể nhận ra đó có phải là nhạc jazz hay không. Nhận biết một bản nhạc jazz, với tôi không dễ, nhưng vẫn dễ dàng hơn định nghĩa nhạc jazz. Ngay cả đối với những người chuyên nghiệp, định nghĩa nhạc jazz là gì, không phải dễ dàng.

Để tìm hiểu nhạc jazz tôi tham khảo quyển “Why Jazz? – A Concise Guide” của Kevin Whitehead. Đây là một quyển sách mỏng, dễ hiểu, bởi vì tác giả không viết theo lối hàn lâm. Ông đặt ra những câu hỏi ngắn, và câu trả lời cũng ngắn gọn, đơn giản, để thỏa mãn tò mò của độc giả (không chuyên về nhạc) như tôi. Sau đây là phần tôi trích dịch trong quyển sách. Tuy ông viết rất dễ hiểu, nhưng tôi thấy khó dịch, vì tôi không có đủ từ Việt về âm nhạc. Tôi chỉ dịch theo cách tôi hiểu, và dịch thoáng, thêm chữ hay bớt chữ để câu văn viết dễ đọc và xuôi tai.

Trang 5. Jazz là gì?

Jazz có nhiều loại, nhịp điệu khác nhau, nên khó có một định nghĩa đơn giản để mọi người đều đồng ý. Người sành điệu có thể không chấp nhận một số nhạc sĩ, bảo rằng những người này không phải là nhạc sĩ jazz vì loại nhạc họ trình diễn không phải là nhạc jazz. Tuy nhiên để bắt đầu cuộc tìm hiểu chúng ta có thể tạm chấp nhận rằng: jazz là một loại nhạc có nhịp điệu trái ngược nhau, chú trọng việc phô trương kỹ thuật trình diễn cá nhân, thường là do sự tự cải biến trong lúc trình diễn. Jazz là một hỗn hợp gồm nhiều khía cạnh của nhạc dân ca và nhạc hòa tấu nghệ thuật. Đặc tính (cái hay cái đẹp) của jazz là bộc lộ rõ rệt cá tính của người Mỹ da đen, bất kỳ người trình diễn là ai hay trình diễn ở đâu.  Đối với nhạc sĩ jazz, loại nhạc cụ họ sử dụng không quan trọng bằng cách họ sử dụng nhạc cụ: tác phẩm được cải biến bằng cách “bóp méo” (một cách nghệ thuật) nhịp điệu (rhythms), âm điệu (melodies), ngay cả hình thức (forms) của bản nhạc.

Trang 1. Tại sao nghe nhạc jazz?

Vì nhạc jazz thú vị. Sau đó mới đến các lý do khác. Jazz hấp dẫn vì loại nhạc này được xem là một cách thử thách tài năng của nhạc sĩ và cũng là một khía cạnh văn hóa, tiếng nói của người Mỹ gốc Phi châu với thế giới. Nhưng tất cả những điều này chẳng có nghĩa lý gì nếu nhạc jazz nghe không thú vị. Jazz là một thế giới âm nhạc riêng biệt, bao gồm loại nhạc jazz truyền thống vùng New Orleans và nhạc jazz tự do không theo thể loại nhất định, nhạc swing cuồn cuộn của Kansas City và loại bebop dồn dập, nhạc jazz được trình diễn bằng đàn guitar điện âm thanh dòn dã, những đoạn nhạc được viết theo khuynh hướng hậu hiện đại, loại nhạc jazz quí phái, quyến rũ dục vọng, khôi hài, loại nhạc thưởng thức bằng trí óc và nhạc để nhảy múa, nhạc blues, nhạc Viễn Tây (country music), rock’n’roll. Tất cả đều gọi chung là jazz.

Trang 2. Tôi có cần phải thích tất cả loại nhạc jazz không? Tôi có cần phải biết lịch sử nhạc jazz để thưởng thức nhạc không?

Giới hâm mộ nhạc phản ứng theo bản năng. Họ nghe nhịp điệu hòa quyện với âm thanh của nhạc cụ hoặc là giọng hát của ca sĩ và họ thích ngay lập tức. Đối với một số thính giả, chỉ cần biết một loại nhạc jazz là đủ rồi. Họ có thể nghĩ là chỉ có một loại jazz đó là quan trọng thôi.

Nhưng jazz lại quan trọng về sự thay đổi: cách mà nhạc sĩ “riff”[1], ý tưởng, hoặc phong cách trình diễn đã biến bản nhạc gốc thành một bản nhạc khác. Với những người nghe jazz kinh nghiệm, họ biết những chỗ hay, hoặc lạ, đặc biệt đến độ buột miệng kêu à há, khi họ nhận ra những âm thanh thay đổi, mới lạ và độc đáo, từ bản nhạc cũ. Để biết nhận ra những cái hay đó, biết về lịch sử âm nhạc có thể giúp ích – một vài khái niệm về dáng dấp âm nhạc.

***Đặt cục gạch làm dấu ở đây – Ngày mai sẽ viết jazz trong phim ảnh và văn học.


[1] Cách nhạc sĩ trình diễn, thường là một chuỗi nốt nhạc được lập lại với một vài nốt nhạc được biến đổi.

Jazz in the garden 3

David Gibson người thổi kèn trombone
David Gibson người thổi kèn trombone

Thứ năm tuần trước, trời đẹp, gió hiu hiu. Tôi không ăn trưa, giờ ăn trưa tôi quơ vội mắt kính đen và cái mũ fedora, đi nghe nhạc jazz.

Điểm thú vị của mùa hè là trời nóng, các cô gái trẻ mặc quần áo rất ít vải, đi đâu cũng thấy những đôi chân đẹp đều như những đôi đũa ngà, những bờ vai trần, và những cổ áo cắt thật sâu để lộ vùng ngực thật là quyến rũ. Tôi thích mùa hè ở chỗ tôi được mặc đồ bằng vải trắng, vải cotton không pha nylon hay vải soa. Tôi thích cái mỏng, thô, mềm của vải.

Vừa băng qua đường, trước mặt tôi là một nơi trưng bày mỹ thuật của các nhà mỹ thuật trẻ tuổi. Người đàn ông đứng ở cửa, nhìn thấy tôi xăm xăm băng qua đường, có lẽ tưởng nhầm tôi là du khách đi xem triễn lãm mỹ thuật, ông vội vàng mở cửa mời. Khi thấy tôi đi ngang mà không vào, ông cười khen: “Cái mũ của bà rất đẹp.” Tôi vừa đi vừa cúi người nói cảm ơn ông. Và thấy sung sướng được khen, dù chẳng phải khen mình mà là khen cái mũ. Khoe ở đây thôi, chứ không dám kể lại với ông Tám. Các đấng ông chồng Việt Nam, chẳng những chẳng bao giờ khen cái mũ của vợ đẹp, người khác khen cũng chẳng hài lòng.

Không thể nghe nhạc đến cuối chương trình, tôi phải ra về sau khi nghe được 45 phút, vì phải đi làm. Tôi có thể ở trễ một chút, chẳng ai kiểm soát hay rầy mắng gì, nhưng tôi không muốn như thế. Tôi áy náy, cảm thấy mình bất nhã khi bỏ về giữa chừng. Ra khỏi chỗ hòa nhạc, đói bụng, tôi mua một cái hot dog, vừa đi vừa ăn, cố cẩn thận để không dính catchup vào áo trắng.

Hôm trước có bạn bảo rằng nhạc jazz là nhạc khó thưởng thức. Trong bài này tôi kiếm được cái link nhạc Việt Nam trình diễn theo kiểu nhạc jazz. Đây là những bài quen thuộc như Đêm Đông, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội. Có lẽ nhờ đã biết lời (lyrics) của các bản nhạc này, và nhạc (melody) cũng quen thuộc, mà jazz dễ nghe, dễ thích hơn.