Hoa Pensée và Giấc mơ đêm hạ chí

Liên tiếp mấy hôm nay ngày nào cũng mưa và mưa rất to làm tôi nhớ những cơn mưa mùa hè ở Việt Nam khi tôi còn bé. Sài Gòn sau cơn mưa, hàng me già lướt thướt. Hôm kia (June 18, 2017) tôi được mời ăn đám giỗ. Khoảng năm hay sáu giờ trời mưa tầm tã nhưng một lúc sau thì tạnh mưa. Tám giờ tối vẫn còn ánh sáng. Tiệc tàn lúc chín giờ ra về, khi lên xe tôi thấy đom đóm bay lập lòe. Vậy là mùa hè rồi đó.

Hễ nói đến mùa hè không thể không nhớ đến tên một vở kịch của Shakespeare, “A Midsummer Night’s Dream” (Giấc mơ đêm hạ chí). Đây là một vở kịch thơ với rất nhiều nhân vật. Trong phạm vi bài tản mạn ngắn này tôi chỉ muốn nói đến một loài hoa trong vở kịch này. Bạn đọc nào quen thuộc với kịch bản Shakespeare đều biết rằng ông là một người yêu thích công việc làm vườn, trồng cây, và trồng hoa do đó ông luôn nhắc đến tên của rất nhiều loại hoa. Đây là lý do mà những công viên nổi tiếng ở Hoa Kỳ đều có một phần dành riêng cho những loại hoa, cây cỏ hương liệu, thường hay được nhắc tên trong kịch của Shakespeare. Mảnh vườn này được đặt tên là Shakespeare’s Garden, vườn của Shakespeare. Ở trong Central Park có vườn của Shakespeare. Ở trong Brooklyn Botanical Garden, và New York Botanical Garden cũng có vườn của Shakespeare.

Người ta tin rằng, vào giữa đêm hạ chí[i] tiên sẽ xuất hiện và có nhiều chuyện thần tiên sẽ xảy ra. Trong một khu rừng gần Athens (Hy Lạp) trong đêm hạ chí, Puck, một vị elf (tiên) nổi tiếng nghịch ngợm thường quấy phá loài người để mua vui cho ông chủ được Oberon, vua của loài tiên cũng là chủ của Puck,  giao cho trách nhiệm đi tìm một loài hoa đặc biệt, vì Puck có khả năng đi vòng quanh địa cầu trong bốn mươi giờ (chỗ này tôi quên không nhớ chắc chắn con số là bốn giờ hay bốn mươi giờ). Oberon và Titania, hoàng hậu của Oberon, tuy là tiên nhưng chẳng khác gì người trần tục, họ thường hay cãi nhau vì ghen tuông. Titania bảo rằng vua Oberon si mê Hippolyta, nữ hoàng Amazon. Oberon cáo buộc ngược lại là Titania phải lòng Theseus, Hoàng thân (hay Công tước) của Athens. Titania có một cậu bé hầu cận nàng rất yêu mến. Oberon muốn mang cậu bé về làm henchmen (người thay mặt vua ra lệnh xấu như trừng phạt loài người) nhưng Titania nhất quyết không chịu dù có phải đem đổi cả ngai vàng của vua tiên. Oberon thề trả thù.

Oberon kể với Puck, có một đêm ông nhìn thấy Cupid (thần Tình Yêu) giương cung nhắm bắn vào trái tim của một nàng trinh nữ đẹp tuyệt trần nhưng bắn hụt. Mũi tên rơi xuống mặt đất cắm vào một đóa hoa pansy (còn gọi là pensée). Đóa hoa ban đầu màu trắng như sữa, sau khi trúng mũi tên của thần Tình Yêu đổi thành màu tím. Màu của khát vọng. Sau khi trúng tên của Cupid, pensée trở thành loại hoa có phép nhiệm mầu. Lấy mật của hoa này, thoa lên mi mắt của người đang ngủ, dù đó là người trần gian hay là tiên, nam hay nữ, người ấy sẽ yêu đắm đuối, dù là người hay quái vật, người ấy nhìn thấy đầu tiên.

Đây là đoạn thơ nói về hoa pensée trong vở kịch của Shakespeare. Vua tiên Oberon nói:

Yet mark’d I where the bolt of Cupid fell.
It fell upon a little western flower,
Before milk-white, now purple with love’s wound,
And maidens call it love-in-idleness[ii].
Fetch me that flower; the herb I shew’d thee once.
The juice of it on sleeping eyedlids laid
Will make or man or woman madly dote
Upon the next live creature that it sees.
Fetch me this herb, and be thou here again. 

Dịch đại

Ta đánh dấu nơi mũi tên của Cupid rơi
Trên một đóa hoa nhỏ bé ở hướng tây,
Màu trắng sữa, nó biến thành màu tím sau khi bị vết thương tình yêu.
Các cô thiếu nữ gọi nó là hoa tình-yêu-khi-nhàn rỗi.
Hãy mang về cho ta loại hoa này, loại cỏ mà ta đã có lần chỉ cho ngươi xem
Mật hoa thoa lên mí mắt người đang ngủ
Sẽ làm cho người ấy yêu say đắm
Bất cứ người (hay quái vật) nào người ấy nhìn thấy
Hãy tìm loài hoa ấy, và trở lại đây. 

Và kèm theo là vài bức ảnh của hoa pensée tôi chụp trong công viên gần chỗ làm việc. Pensée màu tím là một hình ảnh thơ mộng trong một bài hát Việt.

Chiều nay trong vườn hoa pensée tím đua bay,
Chiều nay anh ơi gió heo may ngừng nơi đây
Hoa tím nơi này,
Chờ anh đã bao ngày
Anh có mơ màu tím chiều nay.

Tôi đi ngủ sớm lúc chưa tám giờ, thức giấc nửa đêm, trong khi chờ giấc ngủ trở lại, tôi viết nhảm bài này. Thấy tôi tản mạn ghê chưa, từ cơn mưa mùa hè, qua kịch Shakespeare, qua hoa pensée. Bây giờ, tôi đi ngủ tiếp.

Tái bút:

8PM 6/22/2017

Tôi viết theo trí nhớ sai lầm. Hạ chí là ngày đầu mùa hè chứ không phải là ngày giữa mùa hè. Xin lỗi!


[i] Hạ chí là ngày chính giữa mùa hè.
[ii] Love-in-idleness là một tên khác của pansy (pensée)

Chỉ là hoa thôi

Bàn làm việc của tôi ở cạnh cửa sổ. Tiếng là tôi làm việc ở tầng lầu thứ hai, nhưng bên dưới tầng lầu thứ nhất là sáu tầng được dùng làm bãi đậu xe, cho nên tầng lầu chỗ bàn tôi làm việc là tầng thứ tám.

Từ bàn làm việc tôi nhìn thấy con sông, có cây cầu. Và bên cạnh cái tòa nhà láng giềng có một bãi đất trống. Người ta vẫn đang xây cất, đất của thành phố bên cạnh New York gần Manhattan thì bạn biết mà, tấc đất tấc vàng. Vậy mà có một bãi đất hoang người ta trồng hoa dại. Từ một hai tuần trước tôi đã thấy có màu trắng trắng xanh xanh vàng vàng. Nhưng cách đây một hay hai hôm, tôi nhìn thấy có hai người đi lang thang trong cánh đồng màu sắc ấy. Nhìn từ xa, tôi cũng biết đó là hai người nhiếp ảnh, vì cách đi dáng đứng và những thứ trang bị của họ. Cái máy cà tàng mười mấy tuổi của tôi không có ống kính chụp xa, tôi cũng không mang theo chân gạc. Nhưng sẵn máy thì chụp, có gì xài nấy, nhiều khi hay không bằng hên 🙂

Buổi trưa, tôi xuống chỗ này. Rác từ đường phố bay vào đầy hết nhưng bạn không thấy vì tôi dấu nó đi, chỉ khoe cái đẹp cái sang của cánh đồng hoa dại.

 

tường vi
Hoa hồng loại tường vi không có hương thơm
Cúc hai màu
Cúc hai màu có lẽ còn được gọi là Indian paintbrush
indian paintbrush
Đây cũng là Indian paintbrush
đồng hoa
Thêm một cái cầu quay ở phía sau cánh đồng hoa
cúc trắng
Cúc trắng
chỉ là hoa thôi
Hai nhiếp ảnh gia chụp từ chỗ bàn làm việc

Vài dòng về uất kim hương

Tulip hay uất kim hương được ca ngợi lần đầu tiên từ những dòng thơ của Hafis (1327 – 90) nhà thơ lớn xứ Ba Tư. “Hãy nhìn những đóa uất kim hương, đầy đặn như đôi má của những nàng thiếu nữ, vươn lên giống như những cái cốc đầy màu sắc mời mọc người ta nâng lên môi nhấp từng ngụm rượu.”

Uất kim hương được xem như lời tỏ tình. Truyện xưa kể rằng hoa sinh ra đời bởi một giọt máu: “Chỉ mới đầu mùa xuân, uất kim hương đã nâng lên cái cốc màu đỏ của nó khi Ferhad chết vì tình yêu của Schirin, nhuộm đỏ cả sa mạc với những giọt nước mắt rơi từ trái tim chàng.”

Uất kim hương mọc thẳng, hướng lên trời và được xem là loài hoa của mặt trời. Hoa quay theo hướng mặt trời và khép cánh lại vào lúc hoàng hôn. Uất kim hương không được nhắc đến trong huyền thoại, luôn luôn bị xem là tượng trưng cho vật chất xa hoa của trần thế. Khi gia nhập vào Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ trong một thời gian ngắn, đã trở nên loại hoa đắt giá nhất trong các loại hoa. Các nhà sultan của Thổ Nhĩ Kỳ, vào thời Osman, đã chọn uất kim hương làm huy hiệu của triều đình. Thế kỷ thứ mười tám, khi lòng ngưỡng mộ hoa uất kim hương ở điểm cao tột độ; lễ hội uất kim hương được tổ chức trong vườn thượng uyển của các vị sultan. Hoa có nhiều loại, được đặt cho những cái tên rất kêu, như “Giấc mơ hạnh phúc”, “Bí mật vĩnh cữu” và “Thần dược tình yêu”.

Loại hoa này được mang đến Vienna (Áo) vào năm 1554 với Ghiselin de Busbeqc. đại sứ Áo vào triều đình Süleyman và vào thời gian này hoa uất kim hương được gọi là tulip. Đại sứ Busbeqc tưởng tên gọi của hoa bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là “tülbend”, nhầm với cái hoa được gắn trên khăn quấn trên đầu màu đỏ của người Thổ Nhĩ Kỳ. Thật ra loài hoa này có tên Ba Tư là “lalé”.

Giới thương gia và học giả là những người đầu tiên đã mang uất kim hương vào Netherlands từ sau năm 1593. Uất kim hương có giá trị (tiền bạc) đến độ người ta có thể đánh đổi nhà cao cửa rộng và những chuyến tàu chở đầy hàng hóa với vài ba củ rễ uất kim hương, xem chúng như là bằng chứng của sự giàu sang. Quan trọng đến độ “ülbend” được Rembrandt mang vào những bức tranh vẽ hoa và tĩnh vật. Khi quốc hội Hòa Lan ấn định giá của hoa uất kim hương vào năm 1637, thị trường uất kim hương bị sụp đổ và nhiều người bị tán gia bại sản. Chẳng ai ngạc nhiên khi uất kim hương trở thành biểu tượng chính của vanitas.

Định nghĩa của vanitas là một bức tranh tĩnh vật, loại tranh của người Hòa lan vào thế kỷ mười bảy, chứa đựng biểu tượng của cái chết hay một sự thay đổi lớn lao, nhắc nhở đến khía cạnh phù du của cuộc đời. Thế kỷ thứ mười bảy, trong tranh vẽ, hoa uất kim hương thường được đặt bên cạnh những cái xương sọ, bị xem là kiêu ngạo và phô trương, thô cứng và lạnh lùng. Loại hoa không có hương thơm này luôn luôn mang một vẻ xa cách. Không được nằm trong danh sách các loại hoa có huyền thoại, hoa cũng không là bạn của các nhà thơ. Thi sĩ không bao giờ mang uất kim hương vào trong đáy trái tim của họ. Tuy nhiên loài hoa “lalé” này đi vào trái tim của thường dân. Giới dân giả xem hoa uất kim hương là biểu tượng của mùa xuân và là biểu tượng của cuộc sống sau khi chết.

Buổi sáng mùa hè êm đềm

Sáng nay trời mát, hơi âm u vì chuyển mưa. Gió đưa hương của mấy bụi hoa honeysuckles xum xuê ngoài hàng rào và của mấy chậu gia vị (lavender, oregano, dill, thyme) tôi mới trồng. Vì mưa nên tôi không phải đi rừng và có thể lãng phí thì giờ một cách thơ mộng bằng cách đăng ảnh chụp trong lúc đi rừng. Mỗi ảnh có minh họa nếu bạn muốn biết thêm thì click vào ảnh.

 

Ngày xuân thong thả

Hôm qua tôi xin nghỉ một ngày đưa ông Tám đi khám bệnh. Không có gì trầm trọng, chẳng qua là đến tuổi, hết khám cái này thì khám cái khác. Chúng ta đều hy vọng là chận đứng được những chứng bệnh, nếu có thể, không cho chúng trở nặng. Và thế là tôi được hưởng thụ một ngày, nhìn cây cỏ chung quanh.

Cây anh đào (cherry) trước nhà nở hoa trắng lấm tấm. Cây eastern redbud cũng ra nụ hoa tim tím hồng hồng lưa thưa. Năm 2012 cơn bão sandy làm ngã hai cây cherry, đây là loại cherry có trái ăn được. Nhờ vậy cây eastern redbud có ánh sáng để mọc lên cao hơn.

Đàn nai thường tụ lại ngủ sân sau nhà tôi, màu lông lẩn vào màu lá khô, khó nhìn thấy. Chỉ có con nai lông trắng là nhìn rõ rệt. Thấy mấy chú nai ăn lá non ngấu nghiến. Sống khó khăn thế mà chúng vẫn sinh sôi tràn lan.

Hoa lily the valley màu trắng nở thành chùm như những chuỗi ngọc trai. Tôi sợ không dám ngửi xem hoa có thơm không vì tôi bị dị ứng với đủ thứ. Cứ đến mùa là sụt sùi và ngứa ngáy mặt mũi vì phấn hoa. Buổi sáng uống một viên thuốc cầm cự với chứng dị ứng, thuốc làm tôi buồn ngủ. Buổi trưa ngủ một giấc dài thấy người tỉnh táo hơn.

Mấy hôm rày tôi được xem khá nhiều phim hay. The Spotlight, phim đưa ra ánh sáng vụ các vị giám mục xâm hại tình dục trẻ em ở Boston. Trumbo, một trong những nhà văn gia nhập đảng Cộng Sản Mỹ, bị giới làm phim ảnh đưa vào danh sách đen.

Khi tôi giới thiệu phim Trumbo với bà quản thủ thư viện, bà thấy tôi trả quyển The Revenant, tôi mượn ở thư viện nhưng trả lại vì biết là không có thì giờ để đọc (vì đang đọc The Big Short) bà hỏi tôi có xem phim này chưa.
“Chưa, tôi đang chờ chắc phải mấy tháng.”
“Phim đẹp tuyệt vời. Tôi chắc bà sẽ thích.”
“Vâng. Thảo nào anh tài tử Leo DiCaprio được giải Oscar.” Tôi nói.
“Bà đã xem the Danish girl chứ?”
“Cũng chưa, tôi đang ở trong danh sách chờ xem phim. Chắc cũng phải cả tháng nữa mới đến phiên tôi.”

Đến đây thì có một bà khách đến đứng sau lưng tôi chờ được phục vụ. Tôi tránh sang một bên nhưng chưa chịu ra về. Khi bà Pat, quản thủ thư viện, xong với bà khách, tôi hỏi bà hình như bà chưa nói hết ý mà muốn nói.
“Eddie Redmayne đóng vai này còn khó diễn hơn. Phim đẹp lắm.” Bà nhấn mạnh chữ beautiful, lập lại mấy lần. Tôi tạm dùng chữ đẹp, nhưng nghĩa của nó lại là rất hay, rất tuyệt, rất sâu sắc,… “Tôi nghĩ Redmayne xứng đáng đọat giải Oscar, dù anh kia cũng tài năng không kém.”
Tôi cám ơn bà chia sẻ ý nghĩ. Tôi nói tôi háo hức chờ xem phim. Và như có phép mầu, phim đến với tôi ngay ngày hôm sau. Tôi xem được cả hai cuốn phim The Danish Girl và The Big Short.

Bây giờ thì phải đi làm, chắc phải vài hôm nữa mới có thể nói chuyện phim. Chúc các bạn một ngày vui vẻ và cuối tuần nghỉ ngơi. Mùa xuân trời đẹp bạn có thể làm một chuyến đi chơi xa.

Tôi thì thèm đi chơi lắm rồi.