Ngày thứ nhất tiếp theo

Nói chưa hết chuyện nàng chủ nhà vui tính và khó tính nên lôi ra kể tiếp. Nàng nắm cổ tôi và ông Tám để nói chuyện cả tiếng đồng hồ. Hai chúng tôi lễ phép đứng nghe. Nhờ nghe nàng nói mà được khen là nàng rất vui được nói chuyện với những người có học. Trong câu chuyện dông dài từ thị trường nhà cửa đến đời sống các nước nàng đã du lịch (nàng chưa đi Á châu), thỉnh thoảng nàng chêm vào vài câu về cách ở trong bed and breakfast của nàng. Nàng than phiền tụi trẻ vào ở không ngăn nắp gọn gàng. Sau đó lại đưa lên facebook than phiền chê bai đủ thứ. “Không thích thì đừng trở lại tại sao lại mang lên mạng mà kể xấu người ta.” Nàng kể chuyện thằng cháu nào đó một ngày tắm hai lần, kết luận “thật ra người ta không cần phải tắm mỗi ngày như vậy. Chỉ có một vài chỗ cần rửa ráy thôi.” Tôi và ông Tám mỗi sáng thức giấc cũng cẩn thận xếp chăn cho ngay ngắn vén khéo. Còn những cái gối trang trí sang trọng thì mình để sang một bên không đụng đến chúng. Nói chơi cho vui, nhưng nếu ai hỏi thì tôi cũng sẽ giới thiệu chỗ ở này, vì nó rẻ bằng nửa giá của khách sạn. Đây là chỗ dành cho người ban ngày đi chơi, tối về ngủ.

Chợ Byward, phân tích ra thì chữ ward có nghĩa là một khu phố, tương tự như chữ quarter trong chữ Latin Quarter của Paris, xóm hay phố La Tinh, mà chúng tôi đám trẻ con Việt Nam khi mới lớn lên nghe trong bài hát, “hỡi em ‘người xóm học’ sương trắng hè phố đêm.” Còn chữ By là họ của một người đã góp phần tạo dựng thành phố Ottawa từ những ngày mới bắt đầu. Tên của ông là John By.

Trong những cuộc đi chơi, tôi cũng có tìm hiểu chút đỉnh về nơi tôi sắp đến, tuy nhiên bản tính lười và có nhiều thứ chi phối nên tôi không tìm hiểu nhiều. Vả lại không tìm hiểu nghiên cứu trước cũng có cái hay là nó làm mình ngạc nhiên. Tôi cốt ý muốn xem vườn thiền nên không chú ý đến mọi thứ khác, nên Byward market làm tôi ngạc nhiên và thú vị.

Vòng quanh chợ, thấy có nhiều nhà hàng của người Irish. Ngày đầu tiên tôi đến trời khá nóng, người ta đặt bàn và dù bên ngoài nhà hàng, màu sắc rất thu hút, nhiều màu đỏ, màu xanh lá cây. Nhạc sĩ trình diễn trên phố vào buổi tối đã thấy đi lang thang với kèn, đàn, hay trống. Đồ thủ công mỹ nghệ cũng được bán trên hè phố rất nhiều, tơ lụa đầy màu sắc. Đa số người ta dọn hàng khi tắt nắng, có vài cửa hàng mở trễ đến tám chín giờ tối mới thu dọn.

Tôi thấy có một nhà hàng Thái, một nhà hàng Tàu, một vài cửa tiệm bán sushi, hai nhà hàng Việt, nhiều nhà hàng Irish, tiệm café. Rất ít nhà hàng Ý, hay nhà hàng Mỹ. Đi đâu cũng thấy Tim Horton nên tôi và ông Tám vào thử, mới biết nó tương tự như McDonald. Tôi gọi một cái bánh parini thịt bò giống như hamburger nhưng gói trong tấm wrap (bánh mì mỏng như bánh tráng và mềm). Ăn khá ngon. Dù tôi không đụng đến khoai tây chiên (cắt dày và to hơn khoai tây chiên của McDonald) mà tôi no suốt buổi tối.

Beavertails là một cửa tiệm bán bánh, nổi tiếng lâu đủ để được vào sách du lịch của Frommer và có một bài trên Wikipedia. Bánh chiên thì có lẽ cũng na ná như donuts. Tôi đi ngang thấy tiệm lúc nào cũng đông khách, trang trí đẹp, nằm ngay cái góc dễ thấy nên du khách thường bấm một vài tấm ảnh về làm kỷ niệm. Mấy cái tiệm bán fastfood ngó sang một department store có tên là Rideau Centre, nhìn lên mấy cái hành lang trên cao bắt ngang đường phố để giúp người dạo tiệm không phải băng ngang đường. Trên đó nam thanh nữ tú rất nhiều. Điểm đặc biệt ở Ottawa tôi nhận thấy là số người Á châu rất đông. Chiều hôm ấy tôi thấy các cô cậu ăn mặc như tài tử Hàn quốc, rất bắt mắt. Số người lang thang, lôi thôi đi phố nào cũng có  cũng gặp. Tuy họ chẳng xin xỏ nhưng thỉnh thoảng cũng có vài hành động cử chỉ làm mình e dè.

 

Ottawa ngày thứ nhất

Tôi chỉ có nửa giờ để blog vì phải đi rừng vì thế chưng ảnh trước, kể chuyện sau. Phải hứa trước để tôi cố giữ lời hứa mà thực hiện.

Tôi đến Ottawa vào chiều thứ Bảy, sáng thứ Ba về. Đây là căn nhà tôi ở trọ cách thành phố chừng năm hay sáu miles (dặm). Giá rẻ bằng phân nửa giá khách sạn ở ngay trong thành phố. Cả bên ngoài và bên trong đều rất tươm tất, sạch sẽ. Bạn quen đi chơi ở nước ngoài ai cũng biết những chỗ cho ở trọ vài ngày gọi là “bed and breakfast” cho người đi chơi cần chỗ ngả lưng, ăn sáng không đòi hỏi phục vụ sang trọng như khách sạn và đỡ tạp nhạp hơn motel.

Chủ nhân là một phụ nữ người da trắng, nói tiếng Anh rất dễ nghe vì giống như tiếng Anh của người Mỹ. Trông nàng rất trẻ, người rất slim (thon thả nhưng không yếu đuối), rất khỏe, tóc bạch kim. Tôi đoán chắc là nàng phải sáu mươi hay hơn, nhưng chỉ nhìn thoáng qua trông như mới năm mươi. Khóe môi có đường nứt nẻ, khóe mắt đầy dấu chân chim, nhưng da căng, mặt sáng, không trang điểm mà vẫn đẹp.

Có lẽ nàng một mình trông coi sự nghiệp nên khi nói chuyện hay thêm vào những câu ám chỉ là mình có người đàn ông cộng sự cộng tác. Làm như thế để phòng thủ kẻo người lạ biết nàng chỉ có một thân một mình dễ sinh chuyện lôi thôi. Nàng thích nói chuyện và là người rất thông minh, hiểu biết chuyện chính trị thời sự của cả thế giới chứ không riêng gì Canada hay Mỹ. Nàng nói chuyện với chúng tôi cả giờ đồng hồ. Thật ra chỉ có nàng nói (không dứt) còn tôi và ông Tám đứng nghe. Tôi thầm nghĩ đàn bà mà sao nói nhiều quá. Cũng may là những điều nàng nói nghe thú vị, chứ tôi sợ những người nói nhiều mà nói những điều tôi không thích nghe.

Nàng cho biết những luật lệ của nàng, căn nhà có bốn phòng rộng cho thuê. Mỗi phòng rất to, rất thoải mái. Áp suất nước rất cao, phòng tắm rất rộng, rộng hơn những khách sạn tôi đã từng ở trước đây. Tuy nhiên luật của nàng rất gắt gao, làm tôi có cảm tưởng như đang ở nhà của má chồng. Đi rón rén, không tắm sớm, không tắm khuya, không tắm hai lần. Trong phòng tắm không có giấy lau tay. Cái bất tiện là phòng tắm dùng chung cho người thuê phòng. Khăn tắm khăn mặt của nàng màu đen, cứng ngắt có lẽ vì không dùng máy sấy hay (tôi có cảm tưởng) cho nhiều thuốc giặt mà không giặt sạch.

Những người khách ở cùng thời gian với tôi đa số là những cặp vợ chồng già (cỡ tuổi của tôi và ông Tám). Có một đôi vợ chồng người Hàn đi vòng quanh thế giới để viết sách. Thật là đáng ngưỡng mộ ông chồng đã chìu vợ đưa vợ đi khắp nơi như vậy. Có lẽ ông cũng thích du hành. Rất tiếc là bà viết blog bằng tiếng Hàn chứ không viết tiếng Anh.

Đi chơi mới về

Bạn có tin vào tử vi không. Đôi khi tôi muốn tin vào tử vi, nhưng chỉ muốn tin vào những chuyện tốt. Thí dụ như tử vi của tôi cung Thiên Di có thanh long thiên mã (nhưng gặp Triệt). Người ta bảo đó là tử vi của ngựa chạy đường cùng. Những năm còn niên thiếu tôi chẳng mấy khi được đi chơi xa, cũng chẳng thấy thèm đi. Đến chừng đi thì đi ra khỏi nước, trong tình trạng nguy hiểm tưởng chết. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến Thiên Mã gặp Triệt. Trong vòng mười năm sắp đến tử vi của tôi ứng vào cung Thiên Di. Chẳng biết có đúng hay không nhưng bỗng dưng tôi có cơ hội, gặp dịp đi nhiều nơi, gần gần thôi.

Bắt đầu là chuyến đi Houston, dự lễ 100 ngày anh chồng qua đời. Tiếp theo là lại đi Houston gặp bạn, rủ nhau đi Austin. Đi chơi Toronto. Đưa nhỏ út đi học ở Illinois. Đi Ottawa. Đi Houston dự kỷ niệm một năm anh chồng qua đời. Còn một chuyến đi nữa vào tháng 10, nhưng chưa đi không thể tính trước.

Mỗi lần nói chuyện đi chơi, trong gia đình nhiều người cứ nghĩ tôi là người chẳng thích đi. Ông Tám cứ mỗi lần nói chuyện đi là lên giọng gắt gỏng tôi. (Lúc sau này chẳng hiểu tại sao, có lẽ tôi trở nên lẩm cẩm lú lẩn sao đó mà tôi bị nạt nộ bị gắt gỏng từ trong nhà đến ngoài đường. Riết rồi tôi muốn tránh xa những người hay gắt tôi.) Thật ra tôi thường mơ mộng những chuyến đi đến những phương trời xa lạ.

Nhưng đi để làm gì? Có bao giờ bạn tự hỏi lý do của những chuyến đi chơi xa của bạn. Có người đi hiking hằng ngàn dặm để tìm chính mình (và viết thành quyển sách) như Cheryl Strayed. Ở Hoa Kỳ đã có hằng ngàn quyển sách về du hành ký. Họ đi tìm gì? Đi để lấy tư liệu viết văn? Để chinh phục đường dài, núi cao. Để là người giàu có và hiểu biết vì đi hết thành phố lớn này đến thành phố khác?

Ở Houston, tôi gặp một người quen ở VN mới sang. Bà này kêu lên, ở đây dễ quá, sướng quá, cứ thích đi chơi là đi chơi. Chứ ở VN muốn đi chơi phải để dành tiền lâu lắm. Tôi không dám trả lời. Thật ra ở đây muốn đi chơi phải hội đủ một vài điều kiện, có tiền, có sức khỏe, có thì giờ, và nếu muốn vòng quanh nước Mỹ bằng xe hơi thì phải hiểu biết luật giao thông, biết lái xe, và ít ra phải biết sử dụng tiếng Anh trôi chảy. Nghĩ ra chẳng dễ chút nào.

Với tôi mỗi lần đi chơi phải tìm người trông nuôi hai con mèo. Cô nàng Tiểu Thư có thể để ở trong nhà ba bốn ngày, để nhiều thức ăn nước uống. Để cửa sổ cho nàng có thể nhảy ra nhảy vào. Còn chàng Lãng Tử thì tội nghiệp hơn. Để thức ăn nhiều thì mấy con ground hogs, opossum, ngay cả chim blue jays nữa, sẽ ăn hết. Trước khi đi tôi khui một hộp cá chia làm hai cho hai con mèo. Tiểu Thư liếm láp chút xíu rồi bỏ đi, phần của nàng tôi mang luôn cho Lãng Tử, chàng ăn ngấu nghiến chỉ một loáng là chấm dứt. Những lần đi ngắn ngày không ai trông hai con mèo, trở về tôi vẫn ngóng tìm Lãng Tử. Nó mất biệt mấy ngày tôi nghĩ là chắc nó bỏ đi luôn không về nữa. Tôi thấy nhẹ nhõm, chắc hết nợ con mèo này. Vắng Lãng Tử, Tiểu Thư mon men ra ngoài sân chơi nhiều hơn. Tuy nhiên, có một chiều chàng mèo hoang trở lại, nằm chờ ăn. Tà tôi bỗng thấy vui mừng, như gặp lại người quen. Thấy trên cổ nó có một con bọ ký sinh to lớn vì hút máu nó. Tội nghiệp nhưng chẳng giúp được gì. Thấy lòng mình bỗng giống như hai câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên:

Quên người nhất đinh ta quên,
Nhưng sao gặp lại còn kiên nhẫn chào.

Nước Mỹ có nhiều trạm dừng chân cho người lái xe đường trường nghỉ ngơi rất đẹp. Làm một chuyến du hành vòng quanh nước Mỹ người ta có nhiều chuyện để kể về các trạm dừng chân này. Dừng chân đổ xăng ở Pennsylvania tôi thấy một cánh ruộng đầy hoa golden rods. Hoa này thơm và có mật ngọt nên loài ong rất thích.

Hôm trước khi đi Houston, tôi và ông Tám đi hiking cho khỏe người, thấy một đóa hoa mọc gần bờ. Hoa súng màu vàng, có lần tôi gọi nó là thủy cúc, nghe cho có vẻ lãng mạn, vì nhớ câu ca dao

Cúc mọc dưới sông gọi là cúc thủy,
chợ Sài gòn xa chợ Mỹ cũng xa.
Viết thư thăm hết mọi nhà,
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em.

Thật ra hoa này trông giống hoa hồng vàng, hơn là hoa cúc. Có lẽ nên gọi nó là hoàng thủy hồng. 🙂

Trên đường đi từ Canada trở lại Mỹ tôi thấy một cái bảng chỉ lối vào một nơi có tên là 1000 islands. Cái bảng rất đặc biệt màu xanh nhưng chữ vàng kim chứ không trắng như những bảng chỉ lối trên đường cao tốc. Trạm dừng chân sau đó có cái tượng đài hải đăng thu nhỏ, có giới thiệu địa danh 1000 islands. Chỗ này của dân nhà giàu của cả hai nước Canada và Hoa Kỳ ở. Vùng này bao gồm gần 1500 đảo. Để được gọi là đảo phải hội đủ vài điều kiện là có ít nhất hai cây to, phải nổi lên trên mặt nước vài mét, và một vài qui định khác. Có đảo chỉ có một nhà, và lại bị bỏ hoang. Hôm nọ thấy trên trang người ta đăng ảnh một căn nhà trên đảo thuộc quần đảo 1000 này tôi đã ao ước được ra đó ở một thời gian để … viết văn.

Chuyến đi Houston trở về tôi được ngồi gần cửa sổ. Trời trong nắng vàng, nhìn xuống thấy mây trôi từng cụm. Lần này nhìn mây thấy lạ vì những đám mây nhỏ này dường như cùng nằm trên một mặt phẳng, như những cụm lục bình trôi trên sông. Thỉnh thoảng có một đám hơi nước, chưa đủ dày để thành mây, gió thổi lướt qua, nhìn thấy dáng mờ mờ như một bóng ma. Cả thế giới bơi lội trong không khí, một môi trường chúng ta biết hiện diện nhưng không nhìn thấy. Ra khỏi bầu khí quyển, tất cả những hành tinh vệ tinh trong vũ trụ có lẽ cũng bơi lội trong một môi trường khác nữa mà chúng ta chưa biết rõ. Dưới đám mây kia tôi thấy núi đồi, sông, thành phố. Vào gần thành phố thấy những khu nhà, bãi đậu xe tạo thành những hoa văn lạ mắt. Nếu có người của hành tinh khác, chắc với họ thật là một cảnh tượng quyến rũ lạ lùng.

Con nhện Maman ở Ottawa

img_0289
Con nhện tên Maman – Mẹ tôi

Tượng con nhện Maman ở phía trước viện bảo tàng Mỹ thuật Quốc Gia Canada ở Ottawa. Tác giả là Louise Bourgeois. Tượng có kích thước 9271 x 8915 x 10236 mm. Được cấu tạo năm 1999, làm bằng đồng, thép không gỉ sét, và đá cẩm thạch trắng.

boc-trung
Bọc trứng nhện bao gồm 26 cái trứng

Nhìn gần thấy chân nhện làm bằng đồng sơn đen, lưới của cái bọc trứng nhện làm bằng thép không gỉ (stainless steel), và trứng nhện bằng đá cẩm thạch trắng.

Tác giả Louise Bourgeois bị mất mẹ năm 21 tuổi. Bức tượng điêu khắc này dùng để vinh danh mẹ của bà vì vậy lấy tên là Mẹ Tôi. Ngày còn sống, Josephine, mẹ của Louise, làm nghề sửa chữa những tấm thảm lớn (tapestries) trong xưởng bảo tồn những thứ đồ dệt của bố Louise, Ở Paris. Ngày mẹ qua đời, Louise nhảy xuống sông Bièvre tự tử, nhưng được bố cứu thóat. Bà nhìn thấy con nhện có những đức tính và năng khiếu của mẹ bà, như dệt tơ, khéo léo, khôn ngoan, và bảo vệ người thân.

Đây là một trong sáu con nhện được làm cùng một mẫu. Con nhện này lớn hàng thứ nhì còn những con kia ở khắp nơi trên thế giới như Anh, Tây Ban Nha, Nhật, Korea, và Arkansas (Hoa Kỳ). Ngoài ra Louise Bourgeois còn thiết kế tượng của ba con nhện nhỏ hơn, có tên là Spider, một được trưng bày ở viện bảo tàng nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ ở Washington D.C., Viện Nghệ Thuật Denver, và Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Đương Đại Kemper ở Kansas City (Missouri).

Con nhện Maman được viện bảo tàng Canada mua với giá 3.2 triệu Mỹ kim, bị cho là quá đắt vào năm 2005, chiếm hết một phần ba ngân sách hằng năm của viện bảo tàng.

Chuyện nhỏ ở thác Niagara

Hôm qua vội chuẩn bị đi làm tôi nghĩ tối về sẽ viết thêm về thác Niagara, nhưng về nhà xem lại thì thấy tự ảnh đã nói hết rồi còn thêm bớt gì. Để kể chuyện đi chơi tôi có thể kể lể đầu cua tai nheo, nhưng sợ chẳng ai đọc, thứ nhất người đọc chẳng có thì giờ, thứ nhì chuyện chẳng có gì hấp dẫn.

Có một vài chi tiết tôi muốn chia sẻ với các bạn vì chuyện vui vui.

một góc của horseshoe bowl

Thác hùng vĩ lắm. Bạn biết rồi. Đứng bên bờ Hoa Kỳ bạn sẽ không nhìn thấy hết sự hùng vĩ này. Đã có một thời người Hoa Kỳ khai thác thương mại thác không đúng hướng nên thác mất đẹp, lôi thôi nhếch nhác, loạn xị. Hoa Kỳ bị du khách thế giới, đặc biệt là châu Âu chê cười dữ dội nên có sửa chữa. Canada khai thác du lịch ở thác Niagara rất tận tình. Cái gì cũng đắt giá kinh hồn.

khi thác Niagara bên bờ Hoa Kỳ ngừng chảy

Năm 1969, người Mỹ xây cofferdam (chẳng biết chữ này dịch là gì, nó là một cái đập làm bằng thép) chặn dòng thác chảy để khám xét thác và nghiên cứu sự soi mòn của thác. Cái đập này làm dòng thác phía Hoa Kỳ ngưng chảy, trở nên khô cạn. Sau bảy năm, họ rút đập ngăn để thác chảy tự do, và soi mòn tự do. Có lẽ cái gì đi ngược hướng với thiên nhiên cũng gây ra tác hại của nó.

Từ bờ Canada, bạn sẽ nhìn thấy có một vùng thác chảy xuống, miệng thác hình móng ngựa vì thế được gọi là horseshoe bowl. Người ta tổ chức chuyến đi khám phá lòng thác từ phía sau dòng thác, đặt tên chuyến đi là Journey Behind The Falls. Chúng tôi đến mua vé lúc mười hai giờ. Người ta bảo chờ đến một giờ ba mươi mới được vào xem. Giá mỗi người đi xem là 30 đô la Canada. Mỗi người được phát cho một cái áo mưa poncho, loại mỏng dùng một lần thôi. Có thể để dành dùng lại, nhưng tôi cắt lủng lỗ để chừa camera ra tiện việc chụp ảnh. Sắp hàng chừng mấy trăm người, lần lượt đi thang máy xuống dưới lòng thác.

đi luồn phía sau thác

Chúng tôi được căn dặn là đi đến về phía trước, chờ xem, coi chừng trượt té, vân vân. Tôi đi theo người phía trước, tản mác, chỉ nhìn thấy cửa động với một màn nước trắng xóa như thế này. Tôi ngỡ ngàng, chỉ có thế này thôi mà tôi phải trả ba chục đồng. Rip off. Tôi quay qua nói với một người ngoại quốc da trắng. Chỉ có thế này thôi à. Ông ta nói. “Thieves.” Quả là nói oan. Nhưng người ta bóc lột tiền của người đi xem quá độ. Ông nói tiếp. “Nhưng chúng ta cứ đâm sầm vào đổ tiền vào túi của họ, vì thế đó là lỗi của chúng ta, sự ngu ngốc của chúng ta.”

ở phía sau thác

Sự ngỡ ngàng này thật ra bắt đầu từ sự hiểu lầm. Chúng tôi muốn đi lên chiếc tàu chạy trên dòng sông, ngược chiều đến gần thác. Khi nghe đi lên tàu, tôi từ chối không muốn đi. Chồng hỏi tại sao, tôi nói sợ. Chồng nạt, gắt gỏng, “làm gì mà sợ. Đã đến đây rồi mà lại không đi.” Ơ hay, sao người ta lại có quyền bắt mình phải đi phải làm những chuyện mình không thích. Tôi ghét chồng lúc ấy muốn nạt lại nhưng cãi nhau sẽ mất vui của mọi người, và tôi đã rất mệt. Tôi có bệnh tâm lý là tôi rất sợ chỗ đông người. Sợ đi tàu đi ghe (vì vượt biên), sợ những gì bất trắc, sợ đi xe (sợ tai nạn và sợ hư xe), sợ đi xa (dù muốn đi chơi). Bệnh này không rõ rệt lắm nên ít người biết, nhưng nó vẫn hiện diện trong tôi. Và tôi biết rất rõ bệnh của tôi.

Không bị đi tàu, giữa đám đông bát nháo trên tàu tôi thở phào nhẹ nhõm. Té ra chúng tôi chọn chuyến đi lòng vòng trong đường hầm chỉ để xem cái cửa động nhìn ra thác, một màn nước trắng xóa và đám rong bám lơ phơ trên cửa động.

Đi ngược trở ra tôi thấy một con đường khác dẫn ra cửa động khác. Nơi đây là một khoảng sân rộng rãi, có hàng rào. Du khách nhìn thấy bảng hiệu của chuyến đi phía sau thác.

dưới lòng thác nhìn lên miệng thác thấy vách núi dựng đứng

Từ chỗ đứng tôi nhìn thấy vách núi dựng đứng. Chúng tôi đang đứng ở dưới lòng thác nhìn lên.

nhìn thác hùng vĩ

Nước chảy xuống từ miệng horsehoe bowl. Mạnh mẽ. Hùng vĩ. Tiếng nước chảy ầm ầm át cả tiếng nói của đám đông. Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Lý Bạch trong bài Tương Tiến Tửu. “Quân bất kiến. Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai…” Chẳng biết sông Hoàng hà có khúc nào chảy mạnh như thác Niagara không, như nước từ trời rơi xuống sầm sập tung tóe thế này.

Tôi cố chụp cả miệng chén hình móng ngựa nhưng không được vì ánh sáng không đều và tôi không biết cách chụp.

Trong đường hầm có nhiều tấm áp phích giảng giải thêm về lịch sử của thác. nước đổ sầm sập xuống

Và đây là bóng của loại hoa dại màu tím loosetride in lên nền thác.

Ripley’s Aquarium of Canada

Chuyến đi này, chúng tôi đi chung với gia đình người em của ông Tám. Người lớn bảo các cháu tự chọn những chỗ muốn đi xem. Ripley’s Aquarium là một trong những chỗ các cô cậu chọn. Hai đứa cháu của tôi vốn dễ tính và ngoan nên chọn lựa đều bị cô út nhà tôi ảnh hưởng. Con bé nhà tôi đi đâu cũng chỉ xem viện bảo tàng thiên nhiên và aquarium. Cái aquarium này chắc là cái thứ tư thứ năm gì đó. Vả lại khi bị bắt chọn những thứ để đi xem hầu hết chúng ta đều lúng túng khi có quá nhiều thứ để chọn lựa, và khó mà biết ý muốn của tất cả mọi người.

Aquarium dịch là gì nhỉ? Đơn giản, nó là cái bồn cá. Nhưng cái bồn cá này nó to quá thì phải có chữ gì to lớn để chỉ nó chứ. Viện hải dương học, hay Trung tâm thủy sinh vật. Có nhiều loại cá quá không thể nhớ tên nổi. Tôi nghĩ đến hai phim họat hình, The Little Mermaid và Finding Nemo, với những rặng san hô nhiều màu dưới đáy biển, và những đàn cá có hình dáng quen thuộc. Cái sai lầm của tôi là không dùng điện thoại để chụp ảnh, mà dùng cái Canon lúc trước hay dùng. Tôi lôi cái Nikon con tôi cho làm quà Giáng sinh ra săm soi nhưng không đủ tự tin để dùng mà mang theo nhiều thì nặng. Samsung 6 có cái giới hạn của nó nhưng snapshot trong bóng tối thì nó hữu hiệu hơn Canon Powershot S5.

Một trong những điểm thú vị của viện thủy sinh này là khán giả đứng lên một vòng quay chậm, nó sẽ đưa khán giả đi xem cá mập và nhiều loại cá khác được nuôi trong những cái bồn khổng lồ. Khán giả nhìn lên đầu, nhìn chung quanh toàn là nước và cá và san hô và rong biển. Ai cao lớn có thể với tay lên đầu chạm vào tường kính tưởng chừng có thể sờ được những con cá mập hung dữ. Cá đuối, và con sam được để trên mặt cát có nước biển và trẻ em với người lớn được khuyến khích sờ vào những con vật biển này, nhẹ nhàng thôi nhé.

Tôi xem mấy con sứa khá lâu. Chúng bay lượn, trồi lên ngụp xuống nhẹ nhàng, phiêu diêu, khi thì như những cái bong bóng màu, khi thì như những cái nấm có đuôi biết bay. Làm mình thấy thư giản bớt căng thẳng. Có một đàn cá, tôi biết tên, nghĩ là mình sẽ nhớ tên nhưng bây giờ thì lại quên mất, trông nó giống như cá chim, có sọc, khá to, có lẽ cỡ hai bàn tay của đàn ông Mỹ để cạnh nhau. Chúng bơi nhẹ nhàng thành từng đàn đến hết chiều dài của hồ, quanh lại bơi về hướng kia, dường như nhìn ngắm loài người đang đứng quanh hồ.  Tôi thấy mấy con vật biển mang tên anemone vì chúng giống như loài hoa anemone.

Tôi nghĩ đến cá chết ở Việt Nam, đến những rặng san hô đã bị chết, đến những hủy hoại môi trường và sinh linh vì sự tham lam táng tận lương tâm của một số người nắm vai trò lãnh đạo. Lãnh đạo như thế này là đưa người dưới quyền lãnh đạo của họ, nôm na là dân quèn, vào chỗ chết. Ở đâu cũng có những người lãnh đạo đâm sau lưng và đâm trước mặt những người dân người lính của họ.

Sau khi đi khá mỏi, tôi hết muốn đi, ngồi trong một góc của viện thủy sinh. Bóng tối, có nhạc nhẹ nên người mỏi mệt dễ buồn ngủ. Tôi thấy một phụ nữ Á châu, trẻ đẹp, chừng hơn bốn mươi, xách rất nhiều giỏ quà chắc mua sắm ở  các tiệm đắt tiền trên Canada. Nàng ngủ gục bên những giỏ quà quí giá. Ngủ say quá đến há hốc cả mồm ra. Tôi nghĩ thầm giá mà chụp ảnh nàng đưa lên facebook nhỉ, có biết ai chụp đâu mà kiện cáo, và mình cũng chẳng nói gì làm nàng thẹn thùng, chỉ nói nàng ngủ quá say thôi. Chập sau thấy chồng nàng đến đánh thức nàng. Hai người nói tiếng Việt với nhau.