Refugees – Người tị nạn

Refugees
– Charles Simic

“Cameo Appearance”

I had a small nonspeaking part
In a bloody epic. I was one of the
Bombed and fleeing humanity.
In the distance our great leader
Crowed like a rooster from a balcony.
Or was it a great actor
Impersonating our great leader?

That’s me there, I said to the kiddies.
I’m squeezed between the man
With two bandaged hands raised
And the old woman with her mouth open
As if she were showing us a tooth

That hurts badly. The hundred times
I rewound the tape, not once
Could thay catch sight of me
In that huge gray crowd,
That was like any other gray crowd.

Trot off to bed, I said finally.
I know I was there. One take
Is all they had time for.
We ran, and the planes grazed our hair.
And then they were no more
As we stood dazed in the burning city.
But, of course, they didn’t film that.

From Walking the Black Cat (1996)

Bản dịch của Nguyễn thị Hải Hà

“Vai trò ngắn ngủi”*

Tôi có một vai diễn không lời
Trong một cuốn phim dài đẫm máu. Tôi là một trong đám người
Bị đánh bom và đang chạy trốn.
Xa xa vị lãnh đạo vĩ đại của chúng tôi
Đang gáy như gà trống trên ban công.
Hay đó chỉ là một diễn viên đại tài
Đang giả dạng làm nhà lãnh đạo.

Tôi đang ở chỗ kia, tôi nói với đám trẻ.
Tôi đang chen ở giữa một người đàn ông
Hai bàn tay băng bó đang giơ lên
Và bà cụ già miệng há hốc
Như đang muốn khoe răng.

Thật là đau đớn. Hằng trăm lần
Tôi quay lại đoạn phim, không phải chỉ một lần
Liệu họ có thể nhìn thấy tôi
Trong đám đông khổng lồ màu xám xịt,
Như bao nhiêu đám đông khác.

Thôi đi ngủ, mãi rồi tôi cũng nói.
Tôi biết tôi đã có mặt ở đó. Chỉ diễn một lần
Họ chỉ có ngần ấy thời gian.
Chúng tôi chạy, và đoàn phi cơ bay sát trên đầu, chỉ cách đường tơ kẻ tóc
Rồi chúng biến mất cả
Còn lại chúng tôi đứng thất thần nhìn thành phố đang cháy rực
Nhưng, dĩ nhiên, họ chẳng quay phim lúc này.

Trích trong “Dẫn Con Mèo Đen Đi” (1996)
Ghi chú:
*”Cameo appearance” dùng để chỉ sự xuất hiện trong chốc lát, thường ở phần đầu hay phần cuối của cuốn phim hoặc vở kịch, của một người rất nổi tiếng (trong chính trị, văn học, hay nghệ thuật). Vai trò của người nổi tiếng này có thể không mấy quan trọng, sự xuất hiện của nhân vật chỉ được dùng để tăng sự chú ý của khán giả.

Bài thơ này xuất hiện trong tuyển tập Letters of Transit – Reflections on Exile, Identity, Language, and Loss do André Aciman biên tập.

Charles Simic (1938) nhà thơ vinh danh Hoa Kỳ năm 2007. Được giải thơ Pulitzer năm 1990.

Hài cú và montage

Hôm nọ tôi nhặt được ở thư viện bỏ túi cuốn sách: Film Theory and Criticism – Introductory Readings, Fourth Edition. Edited by Gerald Mast, Marshall Cohen, and Leo Braudy. Quyển tiểu luận về phim ảnh này dày lắm. Tò mò, tôi lật xem mục lục và vài chương xem có gì dễ đọc không. Tôi gặp chương viết về hình thức của phim, tác giả là Sergei Eisenstein. Ba chớp ba nhoáng tôi tưởng có liên hệ đến ông Einstein nên ngừng lại một chút đọc vài trang rồi thấy một chùm thơ hài cú. Điều thú vị là ông Eisenstein đã nói về hình thức phôi thai, tượng hình của chữ Hán. Nhiều cái tượng hình của chữ nhập lại thành câu thơ. Ông so sánh với hình thức của phim. Nhiều khúc phim ngắn (short shot) được nối ghép lại với nhau thành một đoạn phim. Mỗi chữ hay mỗi đoạn phim mang một ý nghĩa. Nhiều chữ nhiều đoạn phim gom lại biến thành một ý nghĩa khác có chất chứa tình cảm hay triết lý nhân sinh, vân vân. Cách ghép phim này gọi là montage. Tôi không rành về phim ảnh nên hiểu đại khái đơn giản như thế. Hài cú là một thứ montage của những chữ ghép lại. Ông ví von như thế đúng hay sai thì tôi không biết, nhưng sẵn thấy mấy bài thơ hài cú thì chép lại đây hầu bạn đọc. Bài thơ cuối cùng được viết theo thể loại tanka, dài hơn hài cú hai câu.

A lonely crow
On leafless bough,
One autumn eve.

Con quạ lẻ loi
Trên cành trơ trụi lá
Một chiều thu

BASHO

What a resplendent moon!
It cast the shadow of pine boughs
Upon the mats.

Trăng sao mà rạng ngời
Soi bóng cành thông
Trên tấm đệm.

KIKAKU

An evening breeze blows.
The water ripples
Against the blue heron’s legs.

Gió chiều thoang thoảng
Sóng gợn lăn tăn
Ấp yêu chân hạc.

BUSON

It is early dawn.
The castle is surrounded
By the cries of wild ducks.

Bình minh
Lâu đài bị bao vây
Bởi tiếng kêu của vịt trời.

KYOROKU

O mountain pheasant
long are the feathers trail’st thou
on the wooded hill-side-
as long the nights seem to me
on lonely couch sleep seeking.

Ô kìa chàng chim trĩ
Đuôi lông vũ của chàng rất dài
trong khu rừng bên đồi
dài như đêm đen
trên giường cô đơn tìm giấc ngủ.

HITOMARO

Snow flakes – Hoa tuyết

Update: Thêm vài tấm ảnh chụp trời tuyết năm 2014. Bây giờ trời tuyết thì cũng chẳng khác gì mấy tấm ảnh cũ.

Vì tôi có dư thì giờ và vì trời tuyết đang rơi, nên chẳng có gì thú vị hơn là đọc thơ về tuyết. Hôm nọ tôi nhặt được ở thư viện bỏ túi một tập thơ toàn là về mùa đông và tuyết. Thật là tuyệt vời, đúng là thứ tôi tìm kiếm đã lâu. Tập thơ lại bao gồm toàn là những nhà thơ tên tuổi. Hôm nay mời bạn đọc một bài của Emily Dickinson. Tôi rất ớn thơ của nữ thi sĩ đại tài này, vì tôi không hiểu hết, chỉ có thể hiểu nghĩa đen (như vậy cũng là may lắm rồi) còn Bà có ẩn ý gì nữa thì tôi đầu hàng.

Snow flakes
I counted till they danced so
Their slippers leaped the town,
And then I took a pencil
To note the rebels down.
And then they grew so jolly
I did resign the prig,
And ten of my once stately toes
Are marshalled for a jig!

Hoa tuyết
Tôi đếm cho đến khi các nàng múa (đến nỗi)
Giày mềm của các nàng tung tăng khắp phố
Rồi tôi lấy bút chì
Ghi chép lại về những người nổi loạn.
Các nàng lớn nhanh thật vui vẻ
Tôi bỏ rơi vẻ đạo mạo
Mười ngón chân trưởng giả của tôi
bị cuốn theo điệu múa

Bài thơ này làm tôi có cảm tưởng như những đóa hoa tuyết đang múa theo điệu ballet vì chữ slippers và chữ leap. A jig là một điệu khiêu vũ của người Irish. Dịch tàm tạm theo cái hiểu của tôi nên không bảo đảm lắm.

Giây phút êm đềm

Good Hours – Robert Frost

I had for my winter evening walk –
No one at all with whom to talk,
But I had the cottages in a row
Up to their shining eyes in snow.

And I thought I had the folk within:
I had the sound of a violin;
I had a glimpse through curtain laces
Of youthful forms and youthful faces.

I had such company outward bound.
I went till there were no cottages found.
I turned and repented, but coming back
I saw no window but that was black.

Over the snow my creaking feet
Disturbed the slumbering village street
Like profanation, by your leave,
At ten o’clock of a winter eve.

Tạm dịch:

Giây phút êm đềm

Tôi hưởng thụ lúc đi dạo đêm đông-
Không có ai để trò chuyện,
Nhưng tôi có những ngôi nhà sắp hàng
Tuyết cao đến tận đôi mắt sáng lấp lánh của chúng.

Và tôi nghĩ đến những người bên trong:
Tôi nghe tiếng vĩ cầm;
Tôi thoáng thấy xuyên qua những bức màn thêu
Bóng dáng và khuôn mặt của những người trẻ tuổi.

Tôi có ngần ấy bạn đồng hành với tôi ở bên ngoài.
Tôi đi mãi cho đến khi không còn ngôi nhà nào nữa.
Tôi quay lại, tiếc rẻ, nhưng cũng quay về
Chỗ cửa sổ chỉ còn bóng tối.

Trên tuyết, bước chân lào xào của tôi
Quấy nhiễu phố phường trong giấc ngủ
Như một câu chửi thề, bởi vì bạn ra đi nếu được phép.
Lúc mười giờ tối đêm mùa đông.

Ẩn ý

Hãy tưởng tượng đón xe tắc xi và tài xế là thi sĩ. Bạn có thể nói, “đọc cho tôi nghe một bài thơ rồi chở tôi đến Costa Rica.” Lúc lái xe đi.

Hãy tưởng tượng bước vào xe tắc xi, tài xế quả thật là thi sĩ. Bạn có thể trích dẫn thơ của Robert Penn Warren mà không cảm thấy lố bịch: “Bác tài, bác có biết, thật sự thật sự biết da thịt là gì không?”

Hãy tưởng tượng bước vào xe tắc xi, ở thành phố Saskatchewan trời đang đổ tuyết, và tài xế chưa kiếm được đồng nào. Tuyết tiếp tục rơi và cả hai người bị mắc kẹt trong xe, thơ không thể mang bạn đến nơi nào nhanh hơn bất cứ thứ gì.

Hãy tưởng tượng đột nhập vào tắc xi, và thấy hai người đã chết cứng. Bạn nhìn hết người này đến người kia như thể thấy rằng lần đầu tiên cuộc đời có ý nghĩa, ý nghĩa bị che lấp, và đó không phải là một thứ cơ hội đầy khủng khiếp.

Dịch và đổi thơ thành văn xuôi.

Susan Musgrave
Hidden meaning

Imagine hailing a taxi
and the driver is a poet.
You could say, “Tell me a poem
and take me to Costa Rica.
As you drive away.

Imagine getting into a taxi
where the driver is a real poet.
You could quote Robert Penn Warren
without feeling ridiculous: “Driver,
do you truly, truly know what flesh is?”

Imagine getting into a taxi
and its’s snowy Saskatchewan
and the poet has not made a dollar.
The snow goes on falling
and now you’re both stuck in it; poetry
gets you nowhere faster than anything.

Imagine breaking into a taxi
and finding two poets frozen together.
You’d look at one another as if the world
had meaning for the first time, hidden
meaning, and wouln’t it be a kind
of terrible occasion.

1991

Tiếng nước ngoài

Foreign Language
Tác giả: Ricardo Pau-Llosa

Every object is a room
you walk words into.
Take an apple, its windows peeling.
In your hands the apple’s
door open a crack
and the words barge through
like salesmen confident of a kill.
The gerund opens the mails,
the verb’s hands rumble through
the refrigerator, an averb
caresses the daughter’s knee,
the nouns, its feet on the sofa,
says everything is as it should be.
teeth tear through the walls of the apple
like a plane crashing in the suburbs.
The mouth is full of a wet white word
you can’t pronounce, a pronoun
reading the newspaper in the living room.
When you bit, you never knew what hit you.

Tiếng nước ngoài

Mỗi đồ vật là một căn phòng
Bạn dẫn mớ chữ vào
Lấy một trái táo, cửa sổ gọt lớp vỏ
trên tay bạn cửa ra vào quả táo
hé mở
và mớ chữ ùa vào
như một gả bán hàng
chịt cổ thằng khờ
Động từ dùng như danh từ bóc mở thư,
Tay của động từ lục lọi
tủ lạnh, một trạng từ
mân mê đầu gối đứa con gái
danh từ, chân nó gác trên sô pha
nói mọi thứ đều có vẻ ổn định.
Răng cạp vào vách táo
nghe như tiếng máy bay rơi ở ngoại ô.
Mồm chứa đầy chữ trắng ngần ướt át
Bạn không thể phát âm, một đại danh từ
đọc báo trong phòng khách.
Khi bạn cắn ngập vào, bạn không bao giờ biết cái gì sẽ tông vào bạn

Giới thiệu truyện ngắn

A Clock Ticks at Christmas của bà Patricia Highsmith. Truyện do Nguyễn thị Hải Hà dịch đăng ở Gió O.

Patricia Highsmith (1921 – 1995) sinh ra ở Fort Worth, Texas nhưng sống ở Pháp và Thụy Điển, phần lớn. Tác phẩm đầu tay của bà Stranger on the Train được đạo diễn Alfred Hitchcock làm thành phim năm 1950. Tuy thành công và nổi tiếng rất sớm ở Châu Âu, giới xuất bản và nhà văn ở Hoa Kỳ làm ngơ với bà. Truyện của bà có khuynh hướng đen tối, sát nhân, bạo lực (noir fiction). Nhân vật của bà, cả nam lẫn nữ, đều giỏi lên kế hoạch, âm mưu, thủ đoạn. Sở trường của bà là có thể biến một tình huống bình thường thành một môi trường chín mùi cho một cuộc sát nhân với biến chuyển tâm lý của nhân vật thật tinh tế. Với ngòi bút của bà, một con ngựa cũng có thể trả thù cho người chủ hiền lành và loại trừ một tên ma đầu đại gian ác. Bên cạnh Stranger on the Train, ở Hoa Kỳ, tác phẩm của bà được chuyển thành phim có Carol dựa vào tiểu thuyết The Price of Salt, và The Talented Mr. Ripley.

Hằng năm, vào dịp Giáng sinh tôi thường cố chọn vài truyện Giáng sinh tôi thích để giới thiệu với độc giả. Một việc làm xem có vẻ dễ dàng nhưng thật ra khá khó khăn. Điểm thứ nhất là có quá nhiều truyện. Thứ hai, truyện hay nhưng dài quá. Thời buổi điện tử và facebook, truyện dài kén độc giả. Truyện Giáng sinh thường xoay quanh một số chủ đề, tin hay không tin vào ông già Noel, còn gọi là Santa Claus, Kris Kringle, v. v… . Một chủ đề khác là kêu gọi lòng vị tha, thương người nghèo, san sẻ cái giàu có, tha thứ những hờn giận oán ghét trong quá khứ. Phải công nhận là chủ đề Giáng sinh đã được khai thác tận cùng. Một tác phẩm mới muốn được độc giả chú ý, phải có gì đó vượt qua cái giới hạn văn chương của những nhà văn lừng lẫy trong quá khứ đã tạo nên. Nói về lòng vị tha hay bần tiện của con người, chắc không ai có thể dám so sánh với Charles Dickens qua The Christmas Carol, hay Oliver Twist.

Tôi gặp truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas từ nhiều năm trước nhưng không chọn dịch vì nó dài. Tôi thích truyện này vì cái tính nhị nguyên của nó và không đi theo truyền thống hiền lành vị tha ngọt ngào như thường thấy trong truyện Giáng sinh. Bà Patricia Highsmith đã tài tình diễn tả sự đối xứng của hai nhân vật giàu-nghèo, nam-nữ, hào phóng – keo kiệt. Sở trường của bà, phân tích tâm lý nhân vật thật tinh tế, cái lý do xô đẩy họ đi đến quyết định thi hành một điều tối tăm hay tàn ác, như trong The Stranger on the Train, hay The Talented Mr. Ripley, cũng xuất hiện trong truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas.

Tôi có cảm tưởng tác giả bênh vực Michèle, nàng đã có lòng yêu thương trẻ em nghèo khó. Tuy nhiên nếu đặt mình ở cương vị của Charles tôi hiểu tại sao Charles tức giận. Phản ứng của chàng cũng không bất bình thường. Tôi không thể truyền đạt được ý nghĩa của chữ ticks trong tựa đề. Nó chỉ là tiếng tíc tắc của cái đồng hồ, nhưng tôi có cảm tưởng tôi nghe tiếng tíc tắc của một trái bom đặt nổ đúng giờ, để phá tan nát một cuộc hôn nhân lỗi nhịp.