Một giai thoại nhỏ về Thiếu-tướng Lê Minh Đảo

Tối qua tôi tình cờ gặp trên youtube chương trình nhạc kỷ niệm 30 năm của trung tâm phát hành nhạc Asia. Tôi bỏ những đoạn giới thiệu dài dòng của các MC, chỉ nghe một vài đoạn của vài bài cho đến khi gặp bài Nhớ Mẹ này. Thấy có một vị khán giả cảm động quá khóc mướt làm tôi cũng cảm động theo. Tôi quay trở lại khúc đầu và nghe giới thiệu bài hát này của Tướng Lê Minh Đảo. Kiểm lại trong Wikipedia thấy chức vụ của ông là Major General, Thiếu-tướng.

Trước khi đi ngủ tôi có nói với ông Tám về bài hát Nhớ Mẹ. Tôi ngạc nhiên là một vị Thiếu-tướng đang đi tù lại có thể viết những dòng nhạc thương nhớ mẹ như thế. Quả thật, một cách tổng quát, người lính của quân đội VNCH tâm tính hiền lành, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến yêu thương và mơ ước hòa bình. Tôi thích câu hát “… nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối. Và yêu thương và tự do sẽ còn mãi mãi.” Ngay cả lúc tưởng chừng tuyệt vọng ông Đảo và ông Huề vẫn nuôi hy vọng.

Ông Tám kể tôi nghe. Trước ngày Sài Gòn thất thủ, khi bộ đội miền Bắc từ Phan Rang tràn xuống, đã gặp sư đoàn 18 (dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tướng Đảo) chặn lại ở Xuân Lộc. Sư đoàn 18 bảo vệ Sài-gòn cho đến khi được lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh. Trong khi những vị tướng khác đã chạy ra nước ngoài, Thiếu-tướng Đảo vẫn ở lại với sư đoàn dù ông có thể bỏ hàng ngũ đi bằng trực thăng. Sư đoàn của ông triệt thoái rồi giải tán trong trật tự. Ông anh chồng của tôi, là lính, bị mất hàng ngũ từ nơi nào đó, đã gia nhập với đoàn quân của Tướng Đảo. Ông Tám không phải là quân nhân nhưng khi kể lại giai thoại này giọng ông đầy vẻ kính phục. Tôi thường hay nghi ngờ những quyển hồi ký tự khoe chiến công chiến tích huy hoàng, nhưng những câu truyện truyền miệng từ gia đình thì tôi tin.

Nhân có hai bạn Bảo Bình và Kim Ánh hỏi, tôi ghi lại đây để trả lời chung.

Làm thế nào để nhận ra – Tim O’Brien part 4 of 4

Mitchell Sanders nói đúng. Đối với một người lính bình thường, ít nhất, chiến tranh có cái cảm giác – những sớ da của tư tưởng – của một màn sương mù rộng lớn và ma quái, dày đặc và không bao giờ tan. Không bao giờ rõ ràng trong suốt. Tất cả mọi chuyện xoáy trộn lẫn nhau. Những luật lệ cũ không còn hiệu lực, những sự thật cũ không còn là sự thật. Cái phải đổ tràn vào cái sai trái. Trật tự tan vào trong hỗn loạn, yêu thương tan vào trong thù ghét, cái xấu xa tràn vào cái tươi đẹp, luật pháp tan vào vô luật pháp, văn minh tan vào man rợ. Bạn bị hút vào làn sương mù. Bạn không biết mình đang ở đâu, hay tại sao bạn có mặt ở nơi này, và chỉ có một điều chắc chắn là một sự mù mờ tràn ngập xâm chiếm bạn.

Trong chiến tranh bạn đánh mất cảm giác cố định chắc chắn, vì thế bạn cũng đánh mất cái ý thức về sự thật, và vì thế rất an toàn để nói rằng trong một câu chuyện thật về chiến tranh, không có gì hoàn toàn tuyệt đối là sự thật.

Rất thường xuyên, một câu chuyện về chiến tranh có thật, không có ý nghĩa gì cả. Hay bạn không nhận ra ý nghĩa của câu truyện cho mãi đến hai mươi năm sau, trong giấc ngủ, và khi bạn thức giấc và bạn lắc vợ bạn và bắt đầu kể cho nàng nghe câu truyện, ngoại trừ khi đến cuối truyện bạn lại quên bẵng cái ý nghĩa của câu truyện. Bạn nằm đó rất lâu nhìn thấy câu chuyện xảy ra trong đầu của bạn. Bạn lắng nghe tiếng thở của vợ. Chiến tranh chấm dứt. Bạn nhắm mắt. Bạn mỉm cười và suy nghĩ, Christ, ý nghĩa của câu truyện này là gì?

Truyện này đã đánh thức tôi

Trong rặng núi ấy ngày hôm ấy, tôi nhìn Lemon xoay nghiêng. Hắn cười và nói cái gì đó với Chuột Kiley. Rồi hắn bước nửa bước đặc biệt, di chuyển từ bóng tối ra ngoài ánh sáng mặt trời rạng rỡ, một cái bẫy làm bằng đạn đại bác 105 ly nổ tung làm bắn anh ta vào trong gốc cây. Tất cả thân thể dính trên cây vì thế Dave Jensen và tôi được lệnh ra sân và lột gỡ hắn ra. Tôi nhớ cái xương trắng của cánh tay. tôi nhớ những mảnh da và một chất nhờn nhờn màu vàng có lẽ là gan ruột. Những mảnh thịt vụn thật là khủng khiếp và luôn luôn ám ảnh tôi.  Nhưng điều đánh thức tôi hai mươi năm sau là Dave Jensen đang hát bài “Lemon Tree” (cây chanh) lúc chúng tôi thảy xuống những mảnh vụn da thịt dính trên cây.

Bạn có thể nhận biết một câu chuyện chiến tranh có thật bằng câu bạn hỏi. Có người nào đó kể một câu chuyện, thí dụ thế, và sau đó bạn hỏi, “Chuyện này có thật không?” và nếu câu trả lời đáng tin với bạn, thì bạn đã có câu trả lời.

Thí dụ. Chúng ta đều đã nghe câu truyện này. Có bốn gã đi xuống một con đường mòn. Một quả lựu đạn được ném ra. Một gã nhào ra nằm lên nó và nhận cú nổ nhờ thế cứu được ba người bạn của gã.

Có thật không?

Câu trả lời rất quan trọng.

Bạn cảm thấy bị lừa dối nếu chuyện này chưa từng xảy ra. Nếu không lấy thực tế làm căn bản, đây chỉ là những câu chuyện vụn vặt lảm nhảm cái kiểu tưởng tượng của Hollywood , không có thật như tất cả những câu truyện không có thật. Tuy thế, nếu như nó thật sự xảy ra – và có lẽ nó đã thật sự xảy ra, tất cả mọi thứ trên đời đều có thể – ngay cả lúc ấy bạn biết là nó không thể có thật, bởi vì một câu truyện chiến tranh có thật không thể tùy thuộc vào loại sự thật như thế này. Xảy ra một cách tuyệt đối thì không phải là điểm người ta muốn chú ý. Một chuyện có thể xảy ra và hoàn toàn là điều dối trá; một chuyện khác có thể không xảy ra nhưng có thật còn hơn cả sự thật. Thí dụ khác: Bốn người đi xuống núi. Một quả lựu đạn được ném ra. Một người nhào đến đè lên quả lựu đạn.  Nhưng quả lựu đạn này là một thứ giết người vì thế tất cả mọi người đều bị giết/ Trước khi chết, tuy thế, một trong những người chết nói, “Mày làm cái chuyện này để làm cái chó gì?” và người nhảy ra ôm quả lựu đạn nói, “Câu chuyện của đời tao đấy, mày,” và gã khác bắt đầu mỉm cười nhưng gã chết ngay lúc ấy.
Đó là một câu chuyện thật nhưng chưa bao giờ xảy ra.

Hai mươi năm sau, tôi vẫn còn có thể nhìn thấy ánh mặt trời chiếu sáng trên mặt của Lemon. Tôi thấy hắn quay người, nhìn ngoái lại Chuột Kiley, rồi hắn cười và bước nửa bước đặc biệt từ bóng tối vào ánh nắng, mặt hắn thình lình trở nên nâu và sáng ngời, và khi chân hắn chạm mặt đất, ngay lúc ấy, có lẽ hắn nghĩ chính ánh sáng mặt trời đã giết hắn. Không phải ánh nắng giết hắn. Đó là quả đạn 105 ly địch gài làm bẫy. Nhưng nếu như tôi có thể kể câu truyện một cách trung thực, ánh mặt trời dường như gom tụ chung quanh hắn như thế nào và nhặt lấy hắn rồi nâng hắn lên cao bay bổng lên cây, nếu tôi có thể bằng cách nào đó tái tạo cái màu trắng chết chóc của ánh sáng, một ánh lóe nhanh chóng, một sự hiển nhiên của nguyên nhân và hậu quả, thì bạn có thể sẽ tin vào cái chuyện cuối cùng mà Curt Lemon đã tin, đối với hắn đây là sự thật cuối cùng.

Thỉnh thoảng, khi tôi kể câu chuyện này, có người sẽ đến gần và nói với tôi là bà ấy thích nó. Luôn luôn đó là một người phụ nữ. Thuờng là một phụ nữ có tuổi với vẻ nhân hậu. Bà sẽ giải thích là trên nguyên tắc bà không thích chuyện chiến tranh; bà không hiểu được tai sao người ta lại muốn hiến mình trong những chuyện đẫm máu như thế. Nhưng truyện này thì bà thích. Cái chi tiết về con nghé, làm bà buồn bã. Đôi khi, có cả những giọt nước mắt nho nhỏ. Điều mà tôi nên thực hiện, bà sẽ nói, là bỏ tất cả lại phía sau lưng tôi.  Tìm những chuyện mới mà viết.

Tôi không nói ra nhưng tôi sẽ nghĩ về lời đề nghị này.

Tôi hình dung ra khuôn mặt Rat Kiley, nỗi niềm của hắn, và tôi sẽ nghĩ, là mụ ngốc.

Bởi vì bà ta đã không lắng nghe.

Đây không phải là truyện chiến tranh mà là truyện về tình yêu.

Nhưng bạn không thể nói thế. Bạn chỉ có thể kể lại câu truyện một lần nữa, kiên nhẫn, thêm vào và bớt ra, đặt điều vài chi tiết để có thể kể sự thật. Không có Mitchell Sanders, bạn bảo cho bà ta biết. Không có Lemon, không có Chuột Riley. Không có chỗ đường mòn nối tiếp vào nhau. Không có trâu nghé. Không có dây leo, hay rêu, hay những đóa hoa rừng màu trắng. Bắt đầu sự chấm dứt  , bạn bảo bà ta, tất cả chỉ là chuyện bịa đặt. Tất cả những chi tiết quái quỉ – những ngọn núi, và con sông và đặc bi
ệt con nghé đáng thương khốn khổ kia. Tất cả những điều này đã chẳng xảy ra. Không một chi tiết nào trong số những chi tiết kể trên đã xảy ra. Và ngay cả như nếu mà chúng thật sự xảy ra thì nó đã chẳng xảy ra trên núi ấy, nó xảy ra trong làng nhỏ trên bán đảo Batangan và nó mưa như điên cuồng , và một đêm có một gã tên là Stink Harris nửa đêm thức giấc kêu rú um sùm vì có một con đỉa đang đeo trên lưỡi hắn. Bạn có thể nhận biết một câu truyện về chiến tranh có thật nếu bạn cứ tiếp tục kể.

Và rồi khi cuối cùng, dĩ nhiên, một câu truyện về chiến tranh có thật thì không bao giờ là câu truyện về chiến tranh.  Mà đó là câu truyện nói về ánh nắng. Nói về cái cung cách rất đặc biệt mà hừng đông trải rộng trên sông và bạn biết bạn phải vượt qua sông và hành quân tiến vào trong núi để làm những việc mà bạn rất sợ phải làm.  Đó là về tình yêu và ký ức.  Đó là nỗi thương tiếc.  Đó là về những cô em gái đã không bao giờ hồi âm và về những người không bao giờ biết lắng nghe.

Làm thế nào để nhận ra – Tim O’Brien part 3 of 4

Sau đó, tận trong núi, chúng tôi gặp một con nghé của VC. Nó làm gì trong này tôi không biết – không có ruộng lúa hay nông trại – nhưng chúng tôi rượt đuổi theo nó và cột dây dẫn nó về một làng vắng vẻ nơi chúng tôi trú qua đêm. Sau khi ăn tối Chuột Kiley đến và vuốt mũi con nghé.

Hắn mở một phần thức ăn, thịt heo nấu với đậu, nhưng con nghé không thèm ăn.
Chuột nhún vai.

Hắn bước lùi lại và bắn cái đầu gối bên mặt. Con nghé không kêu tiếng nào. Nó ngã vật xuống, rồi gượng đứng lên, và Chuột lại nhắm cẩn thận rồi bắn đứt một lỗ tai. Hắn bắn vào phần sau của con nghé ngay chỗ gần khối u. Hắn bắn hai phát vào sườn. Không cố ý bắn chết, chỉ làm cho đau đớn. Hắn nâng nòng súng lên nhắm vào mồm và bắn bay cả cái mồm. Không ai nói lời nào. Cả trung đội đứng nhìn, trong óc nghĩ đủ thứ đủ loại cảm giác, nhưng không ai để lộ vẻ thương xót con nghé. Curt Lemon đã chết. Chuột Kiley đã mất người bạn thân trên cõi đời này. Vài ngày sau hắn viết lá thư bộc bạch tâm sự rất dài cho cô em gái của người chết, cô ta chẳng trả lời, nhưng bây giờ là vấn đề đau đớn. Hắn bắn rớt cái đuôi. Hắn bắn nát phần thịt phía dưới xương sườn. Tất cả chung quanh chúng tôi là mùi khói súng và mùi dơ bẩn và mùi rừng xanh, buổi tối hôm ấy trời rất ẩm và nóng. Chuột chuyển sang dùng súng tự động. Hắn bắn một cách nhát gừng, thỉnh thoảng lia một tràng thật ngẫu nhiên, vào bụng và mông của con nghé. Rồi hắn nạp đạn trở lại, ngồi chồm hỗm và bắn vào đầu gối bên trái. Con nghé khụyu xuống rồi lại gượng đứng lên nhưng lần này không còn đứng nổi. Nó loạng choạng rồi ngã xuống nằm nghiêng. Chuột bắn vào mũi nó. Hắn chồm người lên nói nho nhỏ cái gì đó vào tai con nghé, như thể nói chuyện với con vật hắn nuôi, rồi bắn vào cổ con nghé. Từ nãy giờ con nghé hoàn toàn không kêu rên, ngoại trừ tiếng bong bóng thoát ra từ lỗ mũi của con nghé. Nó nằm bất động. Toàn thân con nghé bất động ngoại trừ đôi mắt rất to, tròng mắt đen sáng lánh và đầy vẻ ngu muội.

Chuột Kiley khóc. Hắn cố nói điều gì đó, nhưng ôm lấy cây súng và bỏ đi một mình.

Tất cả chúng tôi đứng tụm lại thành một vòng tròn méo mó chung quanh con nghé. Rất lâu không ai nói lời nào. Chúng tôi đã chứng kiến một chuyện rất căn bản, cần thiết, một chuyện hoàn toàn mới lạ và sâu sắc, một phần nhỏ của cuộc đời rất đáng sợ mà chúng tôi chưa biết gọi nó là gì.

Có kẻ nào đó đá con nghé.
Nó vẫn còn sống, ngắc ngoải, chỉ có đôi mắt còn động đậy.
“Lạ lùng quá,” Dave Jensen nói. “Suốt đời tôi chưa bao giờ nhìn thấy chuyện nào giống như chuyện này.”
“Chưa bao giờ?”
“Chưa. Dẫu một lần.”
Kiowa và Mitchell Sanders khiêng xác con nghé, kéo ra chỗ trống, nâng nó lên, và ném nó xuống giếng trong làng.
Sau đó chúng tôi ngồi chờ cho Chuột hồi tỉnh lại.
“Thật là lạ lùng,” Dave Jensen cứ nói đi nói lại. “Tôi có một nếp nhăn mới. Tôi chưa hề thấy nó lần nào.”
Mitchell Sanders lấy cái yo-yo của hắn ra. “Thế, đây là Việt Nam ,” hắn nói. “Vườn Địa ngục. Ở đây, tất cả những tội lỗi của con người nơi đây đều mới tinh và chưa hề lập lại.”

Bạn tổng quát hóa chiến tranh như thế nào?

Chiến tranh là địa ngục, nhưng điều này chưa nói được phân nửa, bởi vì chiến tranh cũng là bí mật, và khủng khiếp và phiêu lưu và can đảm và khám phá và thánh thiện và thương xót và thất vọng và nhớ nhung và yêu thương.  Chiến tranh độc địa; chiến tranh cũng vui vẻ.  Chiến tranh hấp dẫn; chiến tranh mê muội. Chiến tranh làm bạn trở nên con người.  Chiến tranh giết bạn chết.

Sự thật luôn mâu thuẫn. Nó có thể tranh luận, thí dụ như, chiến tranh đáng ghê tởm. nhưng sự thật chiến tranh cũng là cái đẹp. Trong tất cả những chuyện khủng khiếp, bạn không thể nào không kinh ngạc đến há hốc trước cái vĩ đại đáng sợ của sự chiến đấu. Bạn nhìn chằm chặp dấu vết của những loạt đạn chạy ngằn ngoèo xuyên qua bóng tối như những sợ dây nơ màu đỏ sáng loáng.  Bạn co người phủ phục trong khi phục kích như là một mảnh trăng lạnh thụ động trồi lên trên những cánh đồng bàn đêm. Bạn chiêm ngưỡng sự đối xứng nhịp nhàng của đội quân đang di chuyển, sự hòa hợp của âm thanh và hình dáng và cân xứng, những loạt đạn từ súng máy bắn vải ra như những tấm giấy kim loại thật to, những lọat đạn chiếu sáng, màu trắng phosphor, màu cam tím sáng rực của napalm, ánh sáng choang của đạn pháo.  Nó không xinh đẹp, nói cho đúng.  Nó làm kinh ngạc.  Nó đong đầy cái nhìn. Nó điều khiển bạn. Bạn ghét nó, vâng, nhưng mắt bạn thì không. Như một trận cháy rừng tàn bạo, như ung thư dưới kính hiển vi, bất cứ trận đánh nào hay những cuộc đánh bom hay những bức tường pháo đều có một vẻ đẹp tinh khiết của sự hững hờ về đạo đức – một cái đẹp rất mạnh mẽ và không thể nào thay thế – một câu chuyện chiến tranh có thật sẽ nói thật về điều này, mặc dù sự thật thì xấu xa.

Tổng quát hóa chuyện chiến tranh thì cũng giống như tổng quát hóa chuyện hòa bình.  Hầu như tất cả mọi chuyện đều đúng. Hầu như không có cái gì đúng.  Từ cốt lỏi, có lẽ, chiến tranh chỉ là một cái tên khác của cái chết, tuy thế bất cứ chiến sĩ nào, cũng sẽ bảo với bạn, nếu anh ta nói thật, là cận kề với nỗi chết cũng mang đến cảm giác tương đương với cận kề với sự sống. Sau một trận bắn nhau kịch liệt, luôn luôn hiện diện trong bạn một sự sung sướng rất sống động và bao la. Cây cối cũng sống động. Cỏ, đất – tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ chung quanh bạn đều là tinh túy, là sự sống, và bạn ở trong đó, và toàn thể sự sống động này làm cho bạn run rẩy. Bạn nhận biết rất mạnh mẽ, rất tinh tế về cái bản thân đang còn sống của bạn – cái bản ngã thật nhất, cái con người mà bạn muốn mình như thế, và cái mong muốn được là con người tốt được tạo nên bởi chính sức sống này.  Ngay khi ở giữa loài quỉ sứ bạn muốn là người tốt. Bạn muốn những điều tốt đẹp nhất cho loài người. Bạn muốn có sự công bằng và lịch thiệp và những điều nhã nhặn hòa hợp của con người, những điều mà bạn không hề biết là bạn muốn. Có chút gì vĩ đại trong đó, chút gì thánh thiện. Mặc dù nói ra có vẻ kỳ dị, bạn chưa bao giờ cảm thấy sự sống mạnh mẽ hơn là khi bạn đến gần với cái chết (hay nói cách khác khi đối diện với cái chết bạn mới thấy mình đang sống và ham sống). Bạn nhận ra những gì quí giá và
thật sự có giá trị. Tươi mát, như thể lần đầu tiên, bạn yêu thích cái gì tốt đẹp nhất trong con người bạn và trên thế giới, tất cả những điều đó đều có thể bị mất đi. Khi hoàng hôn rơi, bạn ngồi trong hố cá nhân và nhìn ra con sông rộng nhuộm màu hồng rồi chuyển sang đỏ, nhìn rặng núi rồi nhìn xa hơn rặng núi, và mặc dù ngày mai bạn sẽ phải vượt sông vào trong núi làm những chuyện động trời và rất có thể sẽ bị mất mạng, cho dù chuyện sẽ đến mức ấy, bạn thấy bạn đang ngắm nghía màu sắc tươi đẹp trên sông, bạn cảm thấy rúng động đến sững sờ vẻ đẹp của hoàng hôn, và tràn ngập trong tâm hồn bạn một cảm giác nhức nhối như một tình yêu tan vỡ về thế giới có thể tốt đẹp như thế nào và đáng lẽ nó phải luôn luôn tốt đẹp như thế nhưng hiện tại thì không được như ý.

Làm thế nào để nhận ra – Tim O’Brien part 2 of 4

Nó đã xảy ra, với tôi, gần hai mươi năm về trước. Tôi vẫn còn nhớ chỗ nối vào con đường mòn và những cái cây to khổng lồ và tiếng nước nhỏ giọt nhẹ nhàng ở một nơi nào đó bên ngoài mấy cây to này. Tôi nhớ không khí có mùi rêu. Trên tàng cây tít trên cao có nhiều hoa màu trắng, nhưng không có chút ánh nắng nào, và tôi nhớ bóng tối tỏa ra dưới những cái cây nơi Curt Lemon và Chuột Riley đang chơi tung hứng quả lựu đạn khói. Mitchell Sanders ngồi thảy cái yo-yo của hắn. Norman Bowker, Kiowa và Dave Jensen đứa đang ngủ say gật gù, đứa ngủ lơ mơ và chung quanh chúng tôi toàn là những ngọn núi xanh chớm chở.

Ngoại trừ tiếng cười, tất cả đều im lặng.

Vào một lúc, tôi nhớ, Mitchell Sanders quay sang nhìn tôi, không hẳn gật đầu, như thể báo cho tôi biết một điều gì đó, như thể hắn ta đã biết, sau một lúc ngần ngừ, hắn cuốn cái yo-yo lại và tránh xa ra.

Khó mà kể lại câu chuyện sắp xảy ra.

Hai đứa tụi nó đang chơi đùa. Có tiếng động. Tôi đoán đó là tiếng ngòi nổ, vì thế tôi liếc phía sau tôi và nhìn Lemon bước từ trong bóng mát ra ngoài nắng.  Mặt của hắn bỗng trở nên nâu và sáng ngời. Một chú bé đẹp trai, thật đẹp. Đôi mắt màu xám thật sáng, người thanh mảnh, eo nhỏ, và khi hắn chết cái chết cũng có thể gọi là đẹp, như ánh mặt trời bao bọc chung quanh hắn và nâng hắn lên cao và hút hắn lên ngọn cây cao đầy rêu và dây leo và hoa rừng màu trắng.

Trong bất kỳ câu truyện chiến tranh nào, nhưng đặc biệt là một câu truyện có thật, khó phân biệt chuyện gì thật sự xảy ra hay chỉ dường như xảy ra. Cái dường như xảy ra trở nên chuyện đã xảy ra và phải được kể lại như thế. Cái góc độ nhìn bị lệch lạc. Khi một cái bẫy nổ tung, bạn nhắm mắt và cúi đầu để trốn tránh và bềnh bồng trôi nổi trong chính bản thân.  Khi có một người chết, như Curt Lemon, bạn quay nhìn chỗ khác và nhìn lại mình trong giây phút rồi lại quay nhìn sang chỗ khác. Những hình ảnh trở nên rối loạn; bạn quên đi nhiều chỗ. Và sau đó, khi bạn kể lại câu chuyện này, luôn luôn có cái gì thật là siêu thực trong những điều hình như đã xảy ra làm cho câu chuyện giống như là không có thật, nhưng thật ra nó tượng trưng cho một sự thật đau lòng và chính xác như cái có vẻ như thế của nó.

Trong nhiều trường hợp, một câu chuyện chiến tranh có thật không thể tin được. Nếu bạn tin nó cũng phải giữ mức độ hoài nghi. Đó là một sự hoài nghi về tính chất có thể có thật.  Rất thường xuyên những chuyện có vẻ điên rồ lại là chuyện có thật và những chuyện có vẻ bình thường lại không có thật, bởi vì những chuyện bình thường sẽ làm bạn tin những chuyện điên rồ đến mức độ phi thường.

Còn nhiều trường hợp khác bạn không thể biết câu chuyện chuyến tranh có thật hay không.  Đôi khi nó nằm ngoài khả năng bạn có thể nhận biết.

Tôi nghe Mitchell Sanders kể chuyện này. Lúc ấy đã xế chiều, và chúng tôi ngồi trong hố cá nhân dọc theo bờ sông nước đục ngầu phía Bắc của Quảng Ngãi. Tôi nhớ hoàng hôn dịu dàng làm sao. Một màu đỏ sậm có lẫn chút màu hồng đổ lên trên sông, chảy lan không tiếng động, và buổi sáng hôm sau chúng tôi sẽ băng sông đi về hướng tây để vào trong núi.  Thời điểm này rất thích hợp cho một câu truyện hay.

“Sự thật của Chúa,” Mitchell Sanders nói. “Một đội tuần hành sáu người đi lên núi chỉ để làm công việc quan sát và lắng nghe. Mục đích là ở đấy một tuần, chỉ nằm đó và lắng nghe những chuyển động của phe địch. Họ có mang một cái máy truyền tin, vì thế nếu họ nghe thấy gì đáng nghi ngờ – bất cứ cái gì – họ phải gọi pháo binh hay máy bay, cái gì cần thì dùng. Nếu không thấy gì họ phải giữ tuyệt đối luật thám thính. Tuyệt đối im lặng. Chỉ lắng nghe.

Sanders liếc mắt nhìn tôi để biết chắc là tôi hiểu tình hình. Hắn đang chơi với cái yo-yo của hắn, làm cho cái yo-yo nhún nhảy những đoạn ngắn bằng chuyển động của cổ tay.

Mặt hắn trơ trơ vô cảm trong hoàng hôn.

“Chúng ta theo đúng nguyên tắc khi ở địa điểm thám thính. Sáu thằng, chẳng mở mồm nói một lời cả tuần.  Chúng nó không có lưỡi, chỉ có tai.”
“Ừ,” tôi nói.
“Hiểu tôi nói gì không?”
“Vô hình.”
Sanders gật đầu.
“Chắc chắn rồi, “ hắn nói. “Vô hình. Mấy thằng này, nằm im trong bụi rặm, giả trang, nằm và chờ, chỉ làm có thế thôi, không làm cái gì khác, tụi nó nằm đó suốt bảy ngày chỉ có lắng nghe thôi. Và này, tôi nói cho anh biết – ma quái lắm. Đây là núi. Anh không biết thế nào là ma quái trừ khi anh đã đến nơi ấy. Rừng sâu, ở cao tuốt mãi trên mây và luôn luôn có sương mù – như mưa, nhưng không phải mưa – tất cả mọi thứ đều ẩm ướt và quyện vào nhau và người này không thể nhìn thấy người kia, anh không thấy cả cái đầu con cu khi đi tiểu. Như thể anh không có cả thân hình.  Thật sự ma quái. Anh chỉ đi theo hơi nước – làn sương mù như nuốt lấy anh. . . Và cái âm thanh, nó cứ nheo nhéo suốt. Anh nghe những tiếng mà không ai nghe bao giờ.”

Sanders im lặng một vài giây, tiếp tục chơi với cái yo-yo. Rồi hắn mỉm cười với tôi.

“Sau vài ngày bọn họ nghe một âm thanh thật nhỏ như một loại nhạc rất lạ.  Những tiếng vang dội lạ thường, như tiếng máy phát thanh hay cái gì đó giống như tiếng máy phát thanh nhưng không phải thế. Cái loại nhạc này như thoát ra từ trong đá. Rất xa mà cũng rất gần. Bọn họ cố tảng lờ nó đi. Nhưng đây là địa điểm lắng nghe mà, phải không. Và hằng đêm họ cứ nghe tiếng hòa nhạc điên khùng của tụi gook. Tất cả những tiếng chimes tiếng xylophones, tôi nghĩ, đây là nơi rừng rú hoang dã – không thể nào có thật – nhưng mà nó có đó, như thể những ngọn núi này đã biến thành đài phát thanh Hà Nội. Lẽ tự nhiên là họ lo lắng. Một thằng lấy kẹo cao su trét vào lỗ tai. Thằng khác suýt điên. Khổ nỗi là họ không thể báo cáo về căn cứ là họ nghe tiếng nhạc. Họ không thể nói vào trong máy và truyền về căn cứ mà nói rằng, “Hê, nghe đây, chúng tôi cần yểm trợ, chúng tôi cần bắn cho bay cái ban nhạc đá của tụi gook.” Họ không thể làm như thế. Chuyện sẽ chẳng êm xuôi. Vì thế bọn họ nằm trong sương mù và im mồm. Và càng tệ hơn, là mấy thằng con dại đã không thể long nhong đùa giỡn như bình thường. Không thể nói đùa một câu. Không thể thể trò chuyện với nhau ngoại trừ một đôi câu rầm rì, xì xào, và điều này càng làm khó chịu hơn. Họ chỉ có thể lắng nghe.”

Làm thế nào để nhận ra – Tim O’Brien part 1 of 4

Truyện ngắn How to tell a true war story (Làm thế nào để nhận ra đó là  một câu chuyện chiến tranh có thật) trong tuyển tập truyện ngắn The Things They Carried (Những Điều Họ Đeo Mang).

Đây là chuyện có thật.

Tôi có một người bạn khá thân lúc tôi đi lính ở Việt Nam . Tên anh là Bob Kiley, nhưng tất cả mọi người đều gọi anh là Chuột.

Người bạn của anh mới chết. Một tuần sau Chuột ngồi xuống và viết một lá thư gửi cho cô em gái của người chết. Chuột nói, cô có một người anh rất ngon lành, rất chiến, một người khá vẹn toàn, người bạn và là người đồng chí số dách. Một quân nhân của tất cả quân nhân. Để chứng minh anh kể một số chuyện nho nhỏ, như anh của cô luôn tình nguyện làm những chuyện mà người khác chẳng bao giờ làm, những chuyện nguy hiểm, như canh gác đi tuần khi chung quanh toàn là kẻ địch nguy hiểm. Mình đồng gan sắt, Chuột nói với cô ta. Anh của cô là một anh chàng khá điên, ai cũng biết điều này, nhưng anh ấy điên kiểu tốt, một người thật can đảm, chịu được khó khăn, anh ấy thích vượt qua những thử thách, cái cách của một người chiến đấu với gook (tiếng lóng chỉ người VN với nghĩa xấu). Một người thật là hết sẩy, hết sẩy lắm, Chuột nói.

Nói chung, đó là một lá thư viết rất hay, rất tình cảm, bộc bạch cả tấm lòng. Chuột suýt khóc òa khi viết lá thư này. Nước mắt anh đong đầy khi anh kể lại những mẩu chuyện vui kỷ niệm của anh và người bạn; anh bạn luôn làm cho mọi chuyện có vẻ hứng thú, luôn làm những chuyện động trời như đốt làng và làm khói bốc um trời. Anh cũng có máu khôi hài rất tợn. Một lần ở một khúc sông nọ, anh ta đi câu cá bằng một thùng lựu đạn. Đây có lẽ là chuyện khôi hài nhất trong lịch sử thế giới, Chuột nói, tất cả những mảnh thịt vụn, có chừng hai chục tỷ cá chết nổi lêu bêu. Anh của cô, luôn có thái độ đúng đắn. Anh ấy biết cách vui chơi. Đêm Halloween, nóng bức và ma quái, hắn ta lấy sơn đủ thứ màu vẽ đầy lên người rồi đeo một cái mặt nạ thật quái đản và đi đến một làng xa để xin kẹo. Anh chàng trần như nhộng, chỉ có mang giày, xách dái, và cây súng trường M-16. Một người rất là người, Chuột nói. Rất điên, nhưng bạn có thể tin cậy anh ta sẽ giữ an toàn cho bạn.

Lá thư chuyển sang giọng buồn bã và nghiêm trang. Chuột thố lộ tâm tình. Anh nói anh rất yêu mến người bạn này. Anh ta là bạn thân nhất trên đời của Chuột. Hai người là tri kỷ, tâm hồn giống nhau ý nghĩ giống nhau như thể là anh em sinh đôi, họ có rất nhiều điểm giống nhau. Anh nói sẽ tìm đến thăm cô gái khi cuộc chiến chấm dứt.

Thế rồi sao?

Chuột gửi lá thư. Anh chờ hai tháng. Con nhỏ ngu ấy chẳng trả lời.

Một câu chuyện về chiến tranh có thật không bao giờ có là một câu chuyện có ý nghĩa. Nó không giảng dạy điều gì cũng chẳng khuyến khích đức hạnh, cũng chẳng đưa ra được những mẫu mực chính đáng đúng đắn cho hành vì của loài người, cũng chẳng kềm giữ loài người làm những điều xấu xa con người luôn luôn phạm phải. Nếu có một câu chuyện có vẻ có ý nghĩa, bạn đừng tin. Nếu như cuối một truyện về chiến tranh mà bạn thấy vui và phấn khởi, hay nếu như bạn cảm thấy phần nào chấn chỉnh được những sai trái, gìn giữ được phần nào những thứ tưởng đã bị phế thải, thì bạn đã bị biến thành nạn nhân của một điều gian dối rất cổ xưa và độc ác. Không bao giờ có cái gọi là sửa sai hay chấn chỉnh.  Không có cái gọi là đức hạnh; vì vậy, điều căn bản nhất, là bạn có thể nhận ra một câu chuyện chiến tranh có thật trong cách nó nói về những kẻ đồng minh với chiến tranh, tuyệt đối và không nhân nhượng, đó là tục tằn và tội ác. Chuột Riley nói. Con nhỏ ngu. Hắn đã tử tế lắm nên chẳng mắng cô ta là đồ đĩ chó. Hắn chắc chắn chẳng gọi cô ta là bà, hay em. Hắn gọi cô ta là con nhỏ ngu. Rồi hắn phun nước bọt, mắt gườm gườm. Hắn chỉ mới mười chín tuổi – chuyện này quá sức chịu đựng của hắn – vì thế hắn nhìn bạn bằng đôi mắt hiền lành của tên sát nhân và chửi con nhỏ ngu, bởi vì bạn của hắn đã chết, và bởi vì chuyện quá buồn và hoàn toàn có thật; cô ta đã chẳng hồi âm.

Bạn có thể nhận ra một chuyện chiến tranh có thật nếu nó làm bạn xấu hổ. Nếu bạn không bận tâm đến chuyện chửi thề tục tằn, thì bạn không sẽ màng đến sự thật; nếu bạn không quan tâm đến sự thật, thì bạn hãy cẩn thận đến chuyện bỏ phiếu.  Gửi bọn trẻ đi đánh nhau, khi chúng nó trở về chúng nó sẽ là một lũ chửi bậy.

Hãy nghe Chuột nói: Jesus Christ, mày ạ. Tao viết lá thư mắc toi ấy rất hay, tao khổ cực mày mò viết nó, rồi mày biết không? Cái con nhỏ ngu đó không hề viết một chữ trả lời thư tao.”

Gã bị chết tên là Curt Lemon.  Chuyện như thế này, chúng tôi băng qua một con sông nước đục ngầu đi hướng tây vào trong rặng núi, và ngày thứ ba chúng tôi nghỉ ngơi nơi nối vào đường mòn lên núi. Ngay khi vừa được nghỉ Lemon và Chuột Kiley bắt đầu chơi đùa với nhau. Hai thằng nhóc này không để ý gì đến cái vẻ ma quái đáng sợ của rừng. Chúng nó chỉ là mấy thằng con nít; nên chúng chẳng biết sợ. Cứ tưởng như đây là một cuộc leo núi cắm trại bình thường, cũng chẳng nhớ là chúng đang đi đánh nhau, vì thế hai thằng mon men vào bóng mát của những tàn cây khổng lồ – to và rậm rạp gấp bốn lần bóng cây bình thường, không có ánh nắng xuyên qua chút nào – chúng nó cười rúc rích, gọi nhau là mẹ da vàng và chơi một trò chơi dại dột mà tụi nó đặt ra. Trò chơi dùng lựu đạn khói. Thật ra đây là một trò chơi vô hại ngoại trừ khi bạn làm chuyện ngu xuẩn. Tụi nó rút cái chốt của quả lựu đạn khói ra, đứng cách xa nhau chừng vài mét, tung qua hứng lại quả lựu đạn khói với nhau dưới bóng cây khổng lồ.  Đứa nào vì sợ mà rút lui trước thì sẽ bị gọi là mẹ da vàng. Nếu không ai sợ và rút lui, quả lựu đạn sẽ nổ một tiếng nhỏ và cả hai sẽ bị khói bao trùm. Tụi nó sẽ cười ha hả và nhảy múa chung quanh một hồi rồi tiếp tục bắt đầu một màn khác.

Tất cả những điều này hoàn toàn có thật.

Những Điều Họ Đeo Mang, P. cuối – Tim O’Brien

Vào buổi sáng sau khi Ted Lavender qua đời, Thiếu úy Jimmy Cross nằm phục dưới đáy hố cá nhân và đốt hết những lá thư của Martha.  Sau đó anh đốt hai tấm ảnh. Mưa rơi đều làm khó khăn thêm, nhưng anh dùng viên nguyên liệu nhóm lửa và hộp nhiên liệu Sterno để nhóm một ngọn lửa nhỏ, dùng thân hình của mình che ánh lửa, ngón tay nhón cầm những tấm ảnh để hơ phía trên đốm lửa nhỏ màu xanh.
Anh nhận ra đây chỉ là một cử chỉ tượng trưng.  Ngu ngốc, anh nghĩ.  Ủy mị nữa, nhưng phần lớn là cái ngu ngốc.
Lavender đã chết. Mi không thể nào đốt cháy cái tự trách mình.
Thêm vào đó, những lá thư đó đã in sâu trong đầu anh. Và bây giờ ngay cả khi không có những tấm ảnh, Thiếu úy Cross vẫn nhìn thấy Martha chơi bóng chuyền trong cái quần soóc thể thao trắng và cái áo thun màu vàng.  Anh có thể nhìn thấy nàng di động trong mưa.
Khi đốm lửa tàn, Thiếu úy Cross trùm cái poncho qua vai và ăn sáng bằng thức ăn trong hộp.

Trong những lá thư bị đốt cháy, Martha không bao giờ nhắc đến chiến tranh, ngoại trừ câu nói, Jimmy, bảo trọng.  Nàng không vương vấn.  Nàng ký cuối thư với chữ Thương, nhưng đó không phải là tình yêu, và tất cả những lời hàm chứa hay lý lẽ chẳng quan trọng chút nào.  Tiết trinh không phải là chuyện chính.  Anh ghét nàng.  Vâng.  Anh đã.  Anh đã ghét nàng.  Và cũng yêu, nhưng đó là một tình yêu cứng rắn có lẫn cái ghét.
Buổi sáng ướt át và mờ mịt.  Thiếu úy Jimmy Cross lấy bản đồ ra.  Anh lắc đầu thật mạnh, như để giúp đầu óc tỉnh táo, và cúi xuống bắt đầu đặt kế hoạch hành quân trong ngày.  Trong mười hay hai mươi phút, anh sẽ đánh thức thuộc cấp của anh và họ phải chuẩn bị quân trang quân cụ tiến về hướng tây; nơi bản đồ cho thấy vùng đất này xanh mướt đầy mời mọc.  Họ sẽ làm chuyện họ vẫn làm.  Cơn mưa có thể khiến mọi vật trở nên nặng nề hơn, nhưng mặt khác sẽ có thêm một ngày mới chồng chất lên những ngày đã qua.
Anh rất thực tế về việc này.  Có một sự cứng rắn mới mẻ trong tâm hồn anh.  Anh yêu nàng nhưng anh cũng ghét nàng.

Kể từ khi ấy, mỗi khi anh nghĩ về Martha, anh sẽ nghĩ nàng thuộc về một nơi khác.  Anh sẽ dập tắt những mơ mộng.  Đây không phải là Mount Sebastian, mà là một thế giới hoàn toàn khác biệt, nơi đây không có những bài thơ đẹp hay những cuộc thi giữa khóa, đây là nơi người ta chết vì bất cẩn và ngu ngốc. Kiowa nói đúng.  Bùm-gục xuống, và anh chết toi chết tiệt, không bao giờ chết nửa mùa.
Trong một thoáng, trong màn mưa, Thiếu úy Cross nhìn thấy đôi mắt xám của Martha nhìn anh đăm đắm.
Anh hiểu.
Rất buồn, anh nghĩ.  Những điều người ta mang trong lòng.  Những điều họ đã làm hoặc cảm thấy họ cần phải làm.
Suýt tí nữa anh đã gật đầu chào nàng, nhưng đã không làm thế.

Thay vì tiếp tục suy nghĩ, anh trở lại với cái bản đồ của anh.  Anh nhất quyết sẽ thực hiện nhiệm vụ của anh một cách nghiêm túc và không sơ suất. Điều này đã quá trễ để có thể bảo toàn mạng sống của Lavender, anh biết thế, nhưng từ lúc này anh sẽ chỉ cư xử ở cương vị một người sĩ quan. Anh sẽ loại bỏ viên cuội bùa hộ mạng của anh.  Nuốt nó, có lẽ, hoặc dùng cái ná của Lee Strunk, hay chỉ cần đánh rơi nó trên đường mòn.  Trong cuộc hành quân anh sẽ bắt thuộc cấp thực hành nghiêm chỉnh qui luật chiến trường.  Anh sẽ cẩn thận khi dàn quân bảo vệ hai bên hông, để ngăn ngừa lạc hướng, hay dồn chụm vào nhau, giữ cho trung đội của anh tiến với mức độ vừa phải ở một khoảng cách thích hợp.  Anh sẽ bắt họ phải lau chùi vũ khí.  Anh sẽ tịch thu tất cả các thứ thuốc an thần ma túy của Lavender.  Chút nữa trong ngày, có lẽ, anh sẽ tập họp trung đội và sẽ nói với họ một cách rất đơn giản.  Anh sẽ nhận cái chết của Lavender là do lỗi của anh.  Anh sẽ có chí khí đàn ông khi nhận lỗi.  Anh sẽ nhìn thẳng vào mắt họ, giữ cho cằm của anh ở mức độ quân bình, anh sẽ đọc bản mới của nguyên tắc hoạt động bằng một giọng bình tĩnh, không để lộ xung đột tư tưởng qua giọng nói, giọng nói của anh là giọng nói của một Thiếu úy, không chừa chỗ cho cãi lệnh hay thảo luận.  Bắt đầu ngay bây giờ, anh sẽ bảo họ, họ sẽ không được bỏ dụng cụ dọc đường hành quân.  Họ phải tự kiểm tra hành động của họ.  Họ phải đàng hoàng, gọn ghẽ, sạch sẽ và sẵn sàng để được sử dụng.
Anh sẽ không bỏ qua những sự cẩu thả.  Anh sẽ chứng tỏ bản lĩnh, không gần gũi với thuộc cấp.

Giữa bọn họ với nhau, họ sẽ càu nhàu, dĩ nhiên, và có thể còn tệ hơn thế, bởi vì ngày của họ dường như dài hơn, những thứ họ đeo mang trở nên nặng nề hơn, nhưng Thiếu úy Cross tự nhắc nhở mình, nhiệm vụ của anh không phải để được yêu thương mà lãnh đạo.  Anh sẽ ra lệnh bằng sự thương mến; nhưng chuyện ấy bây giờ không phải là một yếu tố chính.  Và nếu có người nào cãi vã hay cự nự, anh sẽ mím môi, ưỡn vai với tư thế chỉ huy.  Anh có thể sẽ khẽ gật đầu.  Có thể không.  Anh có thể nhún vai và bảo, Tiếp tục, rồi họ sẽ sắp xếp và xếp hàng một rồi đi về hướng các làng ở phía Tây của Than Khe.

Những Điều Họ Đeo Mang, p. 7 – Tim O’Brien

Thường xuyên, họ mang vẻ tự hào nghiêm túc. Thỉnh thoảng, tuy thế, có khi họ hoảng hốt, khi họ la hét và khi muốn la hét nhưng không thể la hét, khi họ vặn vẹo và rên rỉ và ôm đầu và kêu Chúa ơi và nằm xuống đất và bắn bừa và nhăn nhó và nức nở và van nài cho những tiếng nổ kia chấm dứt đi và trở nên điên cuồng và hứa những lời ngu xuẩn với chính mình và với Chúa và với mẹ và với cha, và hy vọng không bị chết. Nói cách khác, điều này xảy đến với tất cả mọi người. Sau khi ngừng bắn, họ nhấp nháy mắt rồi len lén nhìn lên.  Họ rờ rẫm khắp người, cảm thấy nhục nhã, rồi nhanh chóng che dấu đi.  Họ bắt buộc họ phải đứng lên.  Như một diễn tiến chậm chạp, từng khung ảnh rồi từng khung ảnh, thế giới thay thế những điều hợp lý cũ – sự im lặng tuyệt đối, rồi cơn gió, rồi ánh sáng mặt trời, và giọng nói.  Đó là nỗi nhọc nhằn của việc còn sống. Vụng về, họ tập hợp, ban đầu nhóm nhỏ, rồi thành nhóm đông, và trở lại thành quân nhân.  Họ lau nước mắt. Họ kiểm soát số tử thương, phủi bụi, châm thuốc, cố gượng cười, dặng hắng cổ, khạc, và bắt đầu lau chùi vũ khí.  Sau đó một hồi, một kẻ nào đó chợt lắc đầu và nói, Không dóc đâu nghe, suýt nữa là tao ị trong quần, rồi một kẻ khác cười to, điều đó có nghĩa là không tốt, đúng rồi, nhưng thằng cha ấy rõ ràng là không ị trong quần, thế thì không đến nỗi tệ, và dù có thế nào đi nữa không ai làm chuyện như thế rồi đi rêu rao cho mọi người biết.  Họ nheo mắt nhìn vào trong ánh mặt trời dày đặc và dữ dội.  Hồi lâu họ rơi vào im lặng, châm một điếu cần sa rồi theo dõi đường di chuyển của nó từ người này sang người kia, hít vào, giữ cái hèn kém ở bên trong. Toàn là thứ đáng sợ, một người trong bọn nói. Thế rồi có kẻ sẽ nhăn nhở cười hay nhướng mày và nói, Roger-dodger[1], suýt nữa tao bị khoan thêm một cái lỗ đít nữa, suýt thôi.
Có đủ thứ tư thế ngồi đứng.  Có người mang vẻ bỏ cuộc, còn các người khác mang vẻ tự hào hay vẻ nghiêm trang cứng ngắc của lính hay khôi hài hay hung hăng anh hùng.  Họ sợ chết nhưng họ sợ để lộ vẻ sợ chết hơn.
Họ tìm những câu chuyện khôi hài để kể.
Họ dùng những lời cứng rắn nhưng chứa tình cảm mềm mại dịu dàng. Thoa mỡ[2] họ sẽ nói như thế.  Tiêu tùng, cháy, bị xì nẹt lúc đang kéo dây quần rẹt rẹt. Không phải họ độc ác, họ chỉ vờ đóng kịch như trên sân khấu.  Họ là diễn viên.  Khi có người chết, mà cái chết chầm chậm từ từ, thì cái chết này khá lạ lùng như là diễn kịch. Và bởi vì họ đã thuộc lòng câu nói trong vở kịch, cái khôi hài mỉa mai pha lẫn với bi kịch, họ gọi cái chết đó bằng những tên khác nhau như muốn bao bọc cái chết và biến nó thành một khối u để hủy diệt sự thật về cái chết.  Họ đá xác chết.  Họ cắt ngón tay cái.  Họ càu nhàu cằn nhằn. Họ kể chuyện về những thứ thuốc an thần của Ted Lavender, anh chàng đáng thương này không cảm thấy đau đớn chút nào cả, và anh ta ra đi thanh thản nhẹ nhàng làm sao.
Có một bài học ở đây.  Mitchell Sander nói.
Cả trung đội đang chờ máy bay đến chở xác Lavender.  Cả đội chia nhau dùng ma túy của anh ta.
Bài học này rõ ràng quá.  Sander nói, và nháy một bên mắt. Phải tránh xa ma túy.  Nó phá hỏng mất ngày giờ của bạn mỗi khi dùng.
Nói nghe dễ thương lắm, Henry Dobbins nói.
Làm hư hoại tinh thần, biết không?  Nói chuyện say sưa nghiện ngập.  Chẳng còn gì, chỉ có máu và não.
Họ bắt buộc họ phải cười.
Nó đây rồi, họ sẽ nói.  Lập đi lập lại mãi – Nó đây rồi, bạn ta ơi, nó đây rồi – như thể sự lập lại là một hành động đàng hoàng chững chạc, một cân bằng giữa cái điên và cái suýt điên, biết mà chẳng làm được gì, nó đây rồi, điều này có nghĩa là hãy bình tĩnh, để cho nó đi, bởi vì, ừ hứ, bạn ạ, bạn không thể thay đổi những gì không thể thay đổi, nó đây rồi, nó thật sự và chắc chắn và chó má đây rồi.
Họ dữ dằn.
Họ mang tất cả những hành trang tình cảm của những người biết có thể một lúc nào đó mình sẽ chết. Tiếc nuối, sợ hãi, yêu thương, nhớ nhung – đó là những điều không cụ thể, nhưng những điều không cụ thể cũng có thể chất, trọng lực riêng, chúng có sức nặng cụ thể. Họ mang trong lòng những ký ức nhục nhã. Họ mang chung nỗi hèn nhát thầm kín chỉ được kềm giữ sơ sài, cái bản năng bỏ chạy hoặc chết đứng hoặc ẩn trốn, trên nhiều khía cạnh đây là một gánh nặng lớn nhất của tất cả mọi người, bởi vì người ta không thể nào đặt nó xuống, nó đòi hỏi sự cân bằng tuyệt hảo và tư thế toàn hảo. Họ mang tiếng tăm của họ. Họ mang nỗi lo sợ lớn nhất của một quân nhân đó là sợ bị đỏ mặt vì thẹn thùng.  Người ta giết chóc, và bị giết chết bởi vì người ta hỗ thẹn nếu không làm chuyện này. Đó là những điều đầu tiên đã mang họ đến với chiến tranh, chẳng có gì tốt đẹp cả, không có những mơ ước vinh quang hay danh dự, chỉ để lãng tránh nỗi hổ thẹn bị mất danh dự.  Họ chết, để không phải bị chết vì hổ thẹn.  Họ bò vào trong đường hầm và giữ những vị trí lộ liễu, sơ hở nhất, và tiến công dưới lằn đạn.  Mỗi sáng, mặc dù có bao nhiêu điều không thể lường trước, họ vẫn bắt buộc chân họ phải bước.  Họ chịu đựng.  Họ tiếp tục khuân.  Họ không chịu thua hay chấp nhận những phương tiện có ngay trước mắt, chỉ cần nhắm mắt và ngã xuống.  Rất dễ dàng, thật thế. Duỗi người rồi nhào xuống đất để cho bắp thịt dãn ra và không nói không rằng cũng không cử động cho đến khi đồng đội đỡ bạn lên và đưa bạn lên trực thăng; và nó, cái trực thăng, sẽ rồ máy chúi mũi xuống rồi bay lên và đưa bạn lìa xa thế giới.  Chỉ cần một cái ngã thôi, thế mà không ai ngã cả.  Đó không phải là gan dạ, thật ra; mục đích của họ không phải là lòng can đảm.  Nói một cách thật chính xác, họ quá sợ hãi để có thể hèn nhát.

Nói chung, họ mang những thứ này trong lòng, bên ngoài họ đeo lớp mặt nạ thản nhiên. Họ dè bĩu những người báo cáo bị bệnh.  Họ mỉa mai những kẻ đã được thả về bằng cách bắn vào ngón chân hay ngón tay của họ.  Đồ đàn bà, họ chê.  Đó là những lời nhạo báng dữ dội, chỉ loáng thoáng chút ganh tị hoặc nể nang, nhưng chuyện này cũng nhanh chóng tàn phai.

Họ tưởng tượng nòng súng chĩa vào da thịt.  Thật dễ dàng; bóp cò và bắn vỡ ngón chân cái. Họ tưởng tượng cái đau nhanh chóng và ngọt xớt, rồi được rút sang Nhật, vào nhà thương với giường ấm nệm êm và những cô y tá geisha xinh xắn.

Họ mơ ước cánh chim tự do.

Ban đêm, khi canh gác, nhìn vào trong bóng tối, họ được mang đi bằng phi cơ phản lực khổng lồ.  Họ sung sướng phấn khởi khi máy bay cất cánh. Thoát rồi! Họ hét to. Rồi tiếp theo là vận tốc – cánh phi cơ và động cơ – cô tiếp viên hàng không mỉm cười – nhưng đó không chỉ là cái máy bay, đó là con chim thật, một con chim bạc sáng loáng sang trọng với lông cánh và móng vấu và tiếng kêu lảnh lót.  Họ đang bay.  Những gánh nặng rơi mất; chẳng còn gì để gánh chịu.  Họ cười to, và đeo chặt, cảm thấy gió lạnh tạt vào mặt và chiều cao, và bay vút, nghĩ rằng Xong rồi, Ta thoát rồi – họ trần truồng, nhẹ nhàng và tự do – tất cả chỉ còn lại cái nhẹ thênh thang, sáng lạng và nhanh nhẹn và sôi nổi, sáng như ánh sáng, đầu óc lâng lâng, cái vui mừng sung sướng như sùi lên trong phổi, như họ được mang lên cao vượt qua khỏi mây trời và chiến tranh, vượt qua khỏi bổn phận, bên ngoài trọng lực và cái chết và những rối rắm của thể giới – Sin loi! (xin lỗi) họ kêu to.  Xin lỗi nhé, mấy thằng con dại, nhưng tao khùng rồi, tao đang chơi đùa, tao đang lang thang trong vũ trụ, tao thoát rồi! – và đó là một cảm giác thảnh thơi, không vướng bận, chỉ có cưỡi lên những sợi sóng ánh sáng, rong buồm trên con chim bạc khổng lồ tự do vượt lên trên núi non và biển cả, lên trên nước Mỹ, lên trên nông trại và những thành phố say ngủ và những nghĩa địa và xa lộ và những cái vòng cung màu vàng của tiệm McDonald’s, đó là một chuyến bay, một cách chạy trốn, một cách rơi, rơi từ chỗ cao hơn và cao hơn, quay cuồng từ bên bìa của quả đất và vượt cao hơn mặt trời và xuyên qua một khoảng không to lớn im lặng nơi không có những gánh nặng và là nơi mà tất cả mọi vật đều không có trọng lượng – Thoát rồi! Họ hét.  Tao xin lỗi nhưng tao thoát rồi! – và vì thế ban đêm, không hẳn là nằm mơ, họ buông thả cho cái nhẹ tênh, họ được khiêng đi, họ thật sự được sinh ra đời. 


[1] Ngôn ngữ trong quân đội.  Roger là chữ dùng để xác nhận mệnh lệnh hay tin tức nghe qua máy truyền tin.  Dodger là tiếng đệm.  Tuy nhiên nguyên câu Roger-Dodger, you old codger có một giai thoại khác đi kèm.
[2] Tiếng lóng có nghĩa là bắn chết