Đom đóm

Nghe nói ở bên mình bây giờ ít khi nhìn thấy đom đóm, như thể chúng đã bị tuyệt chủng. Người ta tổ chức những cuộc du lịch sang Mã Lai để được xem đom đóm. Năm nay chỗ tôi ở không nhìn thấy đom đóm nhiều như năm trước hay năm trước nữa. Không nhiều nhưng vẫn xuất hiện. Bao giờ cũng loáng thoáng dưới bụi trúc hay đâu đó phía sau rừng, bên cạnh mấy cây dâm bụt hoa tím. Có thể vì tôi đi ngủ sớm nên không nhìn ra ngoài nhà trong đêm. Có thể vì tôi không thức giấc nửa đêm. Cũng có thể, đom đóm như những nàng tiên bé, đi chơi chỗ khác. Không hiểu sao, đom đóm luôn mang cảm giác vui nhẹ nhàng, có chút gì lãng mạn trong không khí. Làm người ta nghĩ đến chuyện thần tiên. “Đêm thơm như một dòng sữa,” hay “đêm vỗ về nuôi nấng, đêm trao ngọt ngào hương phấn.” Ngay cả chữ rêu cũng gợi lên một cảm giác đẹp, êm ái. Làm tôi nhớ câu thơ “Như chân chim muôn thuở. In mãi bậc thềm rêu.” (Thơ Phạm Thiên Thư.)

Tôi đọc tập truyện ngắn “Beauty and Sadness” của Yasunari Kawabata, tiếng là truyện ngắn, nhưng tất cả những truyện ngắn này có liên hệ với nhau, tạo thành một truyện vừa. Phần trích đoạn được trích từ truyện ngắn có tên “A Stone Garden.” Otoko, một nữ họa sĩ mai danh ẩn tích, và Keiko một cô đồ đệ trẻ và rất đẹp. Otoko không trẻ bằng nhưng có lẽ cũng là người đẹp. Hai người đến viếng một vườn trong một chùa thiền nổi tiếng ở Kyoto, Saiho-ji, còn gọi là vườn rêu (Moss Garden). Vườn này vốn là vườn được thiết kế toàn bằng đá, nhưng khí hậu ẩm làm rêu mọc lên đá. Cả vườn được bao trùm bằng một lớp rêu mịn.

Keiko mang tất cả những họa phẩm của nàng đến cho một họa sĩ tài danh, Oki, xem. Câu chuyện khai mở dần. Keiko và Otoko là đôi tình nhân. Keiko ngủ với ông họa sĩ (chừng hơn 50 tuổi) với ý muốn trả thù cho Otoko vì Otoko đã từng là người tình của ông Oki (ông có vợ). Keiko tỏ ý muốn mang thai với Oki khi Otoko thổ lộ là bà có con với Oki. Otoko tát Keiko. Cô gái trẻ giận dỗi và sau đó là đoạn văn này. Tôi dịch bạn đọc chơi vì nó có liên quan đến đom đóm.

“Keiko-” Otoko bước ra hàng hiên và đá mạnh cái lồng chứa đom đóm[i] văng vào trong vườn, dù chân của nàng không mang giày.

Tất cả đom đóm trong lồng dường như sáng ngời lên ngay lập tức. Một dòng ánh sáng trắng có nhuốm màu xanh chảy ra khỏi lồng rồi đáp nhẹ nhàng lên một vạt đất đóng rêu. Bầu trời đầy mây, và hơi ẩm của hoàng hôn bắt đầu lan tỏa nhẹ nhàng trong vườn làm cảnh vật trở nên mù mờ lunh linh, nhưng ngày của mùa hạ thường rất dài nên vẫn còn ánh sáng. Chừng như đàn đom đóm không thể nào chiếu sáng rực rỡ như thế, hay có lẽ, dòng ánh sáng chảy ra khỏi cái lồng chỉ là sự tưởng tượng của nàng, hoặc, dòng ánh sáng ấy chính là tình cảm trong lòng nàng kết tụ thành. Nàng đứng sững sờ và nhìn không chớp cái lồng đom đóm đang nằm nghiêng trên mặt thảm rêu.

Trích truyện ngắn “A Stone Garden” (Vườn Đá) trong tập “Beauty and Sadness” (Nhan sắc và Nỗi Buồn) của Yasunari Kawabata.

[i] Ở Nhật Bản, thời của Yasunari Kawabata (1899 – 1972), trong  vườn có lồng bắt chứa đom đóm. Trong truyện ngắn này, vườn ở đây là một công viên lớn thuộc về phần chùa Saihoji còn gọi là Moss Garden. Tôi không biết bây giờ có còn lồng chứa đom đóm hay không. Tôi cũng không biết lồng chứa đom đóm chỉ để trang trí hay có nhiệm vụ gì khác hay không, thí dụ như thay thế đèn (?) hay người ta không thích đom đóm bay khắp nơi trong vườn, trong nhà.

Vài tấm ảnh

Tôi bắt bạn đọc nhiều rồi, hôm nay đổi gió, đọc vài câu, xem ảnh xoàng xoàng thôi.

xe ngừng cho đàn vịt băng qua đường
Đàn ngỗng Canada đủng đỉnh băng qua đường. Xe ở hai chiều ngừng lại cho vịt đi qua.
kẻ chận hậu
Kẻ cuối cùng đi chận hậu, theo ngôn ngữ của người hiking kẻ này được gọi là sweeper.
vượt xa lộ an toàn
Cả đoàn đến hồ bình yên
bức tường của một ngôi nhà cổ
Vách tường của một ngôi nhà cổ xưa trong thành phố Newark, New Jersey.
clematis
Hoa clematis ở hàng rào một bãi đậu xe
hoa súng trắng
Hoa súng trắng ở hồ Watchung, buổi sáng sớm đi bộ
trái thông
Mấy trái thông của hàng thông quanh bờ hồ Watchung
tượng một người ngồi chống cằm làm bằng những đôi giày
Bức tượng trong viện bảo tàng mỹ thuật Newark, giống một người ngồi xổm chống cằm hay ôm cổ, được kết hợp từ những chiếc giày.

Dance me to the end of love

Tôi tính làm ngơ bài này, vì sợ bạn chán, vì đã nhắc đến nó trước kia với tựa đề “Hãy dìu bước tôi cho đến cuối cuộc tình.” Tuy nhiên, Lea M. cô bạn tôi ở Texas bảo viết về bài này cho cô đọc. Bản này là một trong ba bản nhạc có chủ đề khiêu vũ của nhạc sĩ Leonard Cohen; tôi lựa ra từ lâu nhưng không biết viết gì. Có lẽ một vài dòng về background của nó là đủ rồi. Tiểu sử của bản nhạc thì xem ở Wikipedia. Bạn chẳng cần tìm kiếm biên khảo gì cho rắc rối, cứ đọc wikipedia là tìm ra được nhiều điều thú vị hay ho. Sau đó thì dịch ca từ để có bạn nào muốn thì đọc thêm cho biết. Đọc ca từ thì tôi sợ bạn chán. Còn dịch ca từ thì mất nhiều thì giờ và không dễ dàng gì. Và tôi, một bà già lẩm cẩm  luôn luôn muốn ghi lại những suy nghĩ vụn vặt của mình về chuyện dịch.

Bài hát này được ông Cohen thâu âm từ năm 1984. Rất nhanh chóng nó được nhiều ca nhạc sĩ khác yêu thích. Nó gần như trở thành một bản nhạc căn bản (ai cũng thích cũng có lần trình diễn nó) của giới ca nhạc sĩ. Lúc tôi nghe điệu nhạc dìu dặt này tôi ngờ ngợ không biết nó là điệu nhạc gì (tại tôi lơ tơ mơ cái gì cũng không rành), phải Waltz không? Trong cái xập xình của nó có cái gì đó quen thuộc lắm. Thì ra, ông đã dựa trên điệu dân vũ Hy lạp “Hasapiko.” Nói thì chắc bạn sẽ nhớ liền cái kiểu khiêu vũ tập thể thường thấy trong các đám cưới (trong phim ảnh) hay tiệc tùng liên hoan trên các đảo Hy-lạp theo cái kiểu của anh chàng Alexis Zorba hay trong tiệc cưới của người Do Thái.

Mặc dù, bài hát này nghe như là một bài tình ca, nhưng ông Cohen cho biết cảm hứng để ông viết bài hát này phát xuất từ lò diệt chủng người Do Thái “Holocaust.” Khi người Do Thái bị đẩy vào lò hơi ngạt, thì đám sĩ quan Đức lại chọn ra một số người tù khác (cũng Do Thái) biết đàn, lập ra một ban tứ tấu hay ngũ tấu vĩ cầm (và dương cầm). Ban nhạc này phải trình diễn mua vui cho đám sĩ quan, trong lúc họ ăn tối hay tiệc tùng với nhau. Tiếng đàn vĩ cầm (hay dương cầm) cũng là tiếng nhạc đưa người vào cõi chết. Vì thế ông viết ra câu hát “Dance me to your beauty with a burning violin.”

 “Dance me to your beauty with a burning violin,” meaning the beauty there of being the consummation of life, the end of this existence and of the passionate element in that consummation. But, it is the same language that we use for surrender to the beloved.

Khiêu vũ với tôi mừng vẻ đẹp của em qua tiếng réo rắt của vĩ cầm,” nghĩa là có cái đẹp trong sự chấm dứt của cuộc đời, trong cái cuối cùng của sự hiện hữu, và có tính chất đam mê trong sự hủy diệt. Nhưng đó cũng là cái ngôn ngữ chúng ta dùng để đầu hàng tình yêu.

Với tôi việc dịch bao giờ cũng đưa đến những suy nghĩ để nhận ra sự bất lực trong ngôn ngữ của tôi. Càng ngày, những ngữ vựng từ vựng của tôi càng suy tàn, rơi rớt dần dần. Ngay cả những chữ thật đơn giản của tiếng Anh như chữ dance hay chữ touch cũng làm tôi chập choạng. Dance là khiêu vũ. Người ta chỉ dùng một chữ đơn giản, mà mình phải dùng hai chữ lại vay mượn từ tiếng Hán Việt. Một chữ dance thôi là chúng ta có thể hình dung ra cả chục hành động, như bước tới, bước lui, bước ngang, bước ngắn bước dài, xoay, nhún, nhanh, chậm, giơ tay lên cao hơn đầu rồi cúi đầu đi qua như chơi trò chơi rồng rắn của trẻ con, lả lướt, quay cuồng, vân vân. Dùng chữ nhảy đầm thì không được thanh tao cho lắm.

Ông Cohen nói “dance me” sao không nói “dance with me,” hay nói “me dance,” hay nói “I dance.” Dance me khiến tôi nghĩ đến chữ dắt tôi, đẩy tôi, giúp tôi, bắt (buộc) tôi. Nó không phải là một hành động chủ động.

Trong bài hát có câu “touch me with your naked hand, touch me with your glove.” Đặt cục gạch ở đây để nhớ mà viết tiếp, vì tôi phải đi làm. Dưới đây là bản dịch của bài hát.

July 22, 2017 2:17PM Eastern Time viết tiếp

Làm biếng muốn bỏ luôn rồi, nhưng đã lỡ tuyên bố nên đành phải viết tiếp. Chữ touch, đơn giản là vậy nhưng tôi vẫn bí vì tôi không tìm được hay nghĩ ra chữ tôi muốn dùng. Chữ touch người Mỹ họ dùng sao nhiều nghĩa quá, có khi là chạm nhẹ, có khi là vuốt ve, có khi là sờ, rờ rẫm hay mân mê. Có khi tục có khi không. Touch có thể là chạm bằng lưng bàn tay, hay là lòng bàn tay. Khi ông nói “touch me with your naked hands” mình có thể cảm thấy cái ấm hay cái lạnh trên da dù không nói rõ là vùng da thịt nào mình vẫn cảm thấy có phần nào dục tính trong đó, nếu dùng chữ sờ thì hơi thiếu tình cảm dùng chữ ve vuốt thì e là quá đáng chăng? “Touch me with your gloves” làm tôi có cảm giác như cái bắt tay hay nắm tay nhưng không tháo găng tay. Êm ái nhưng xa lạ lạnh lùng chăng? Vậy đó, những câu đơn giản, nghe thì hiểu liền, tưởng tượng thì mỗi người mỗi khác, có găng tay hay không có găng tay, cái đụng vào, chạm vào, hay sờ vào đánh thức những cảm giác khác nhau trong tư tưởng người đọc. Tôi thấy hay nhưng không dùng chữ để diễn tả được.


Khiêu vũ với tôi, ca ngợi vẻ đẹp của em trong tiếng réo rắt của vĩ cầm. Cho đến khi tôi qua cơn hoảng hốt về đến nơi an toàn. Nâng tôi (nhẹ nhàng) như nâng một cành ô liu và làm con chim bồ câu dẫn đường cho tôi về nhà. Khiêu vũ với tôi cho đến cuối cuộc tình.

Ôi, hãy để tôi được nhìn vẻ đẹp của em khi nhân chứng đã ra đi. Hãy để tôi cảm nhận được sự di chuyển của em như người ta từng làm như thế ở Babylon.

Hãy chỉ cho tôi những điều tôi chỉ biết ít ỏi. Khiêu vũ với tôi cho đến cuối cuộc tình.

Khiêu vũ với tôi đến lễ cưới ngay bây giờ, và không ngừng. Khiêu vũ với tôi thật dịu dàng và thật lâu dài. Chúng ta đều cùng ở bên dưới. Và cùng ở bên trên tình yêu của chúng ta.

Khiêu vũ với tôi chào đón những đứa con cầu xin được sinh ra. Khiêu vũ với tôi xuyên qua bức màn nơi chúng ta đã hôn nhau. Dựng cái lều để trú ẩn bây giờ dẫu rằng đường kim mối chỉ đã sờn. Khiêu vũ với tôi cho đến cuối cuộc tình.

Khiêu vũ với tôi ca ngợi vẻ đẹp của em trong tiếng réo rắt của vĩ cầm. Cho đến khi tôi qua cơn hoảng hốt và đến nơi an toàn. Vuốt ve tôi bằng bàn tay trần và vuốt ve tôi khi mang găng tay.Khiêu vũ với tôi cho đến cuối cuộc tình.

 

Để dành bản khiêu vũ cuối cùng cho anh

Lần đầu tiên nghe bản nhạc này tôi thấy có cái gì đó lạ lạ, khác với những bản nhạc của Leonard Cohen. Thử tìm qua Youtube và Wikipedia tôi mới biết ông không là tác giả của bài hát này. Đây là một bài hát nổi tiếng của Doc Pomus and Port Shuman, hai nhạc sĩ của ban nhạc The Drifters. Ca sĩ chính hát bài này là Ben E. King. Bản nhạc ra đời từ năm 1960. Sau đó có rất nhiều người đã hát bản này, kể cả ca sĩ Pháp, Dalida.

Theo Wikipedia, Doc Pomus thuở nhỏ bị bệnh Polio, bị liệt chân phải ngồi xe lăn. Ngày cưới của ông, cô dâu Willi Burke, vốn là nữ vũ công và là diễn viên của nhạc kịch Broadway, Pomus ngồi nhìn cô dâu khiêu vũ với khách đến dự cưới. Tức cảnh sinh tình, ông viết bản nhạc này.

Tôi chỉ đăng bản dịch, vì nếu thêm lời Anh ngữ nó dài quá, làm bạn chán.

Em có thể khiêu vũ với các bạn trai, họ sẽ nhìn ngắm em. Em có thể cho phép hắn ôm em. Em có thể mỉm cười với anh chàng, người sẽ nắm tay em dưới ánh trăng mờ. Nhưng xin em đừng quên người sẽ đưa em về nhà đêm nay, Và em sẽ nằm trong vòng tay của chàng. Em yêu hãy để dành cho anh bài khiêu vũ cuối cùng. 

Ồ, anh biết rằng nhạc rất hay, cũng như những ly rượu vang sủi bọt rất ngon, em hãy vui chơi. Cứ cười nói và ca hát, nhưng khi chúng ta ở xa nhau, đừng trao trái tim của em cho bất cứ ai. Và cũng đừng quên người sẽ đưa em về nhà đêm nay. Vì thế em yêu, hãy để dành bản khiêu vũ cuối cùng cho anh.

Bé cưng, em không biết rằng anh yêu em nhiều lắm sao. Em không thể cảm thấy tình yêu ấy khi chúng ta chạm vào nhau hay sao? Anh sẽ chẳng bao giờ thả em ra. Anh yêu em nhiều vô cùng.

Em cứ tiếp tục khiêu vũ đi cho đến khi đêm tàn. Và khi đến lúc phải ra về, nếu có người hỏi em rằng em đi một mình hay sao rồi xin em cho phép anh ta đưa em về, em phải trả lời là không. Đừng quên người sẽ đưa em về, và em sẽ ở trong vòng tay của chàng. Vì thế em cưng ơi, hãy để dành bản khiêu vũ cuối cùng cho anh.

Dù chàng rể mới cho phép vợ mới khiêu vũ với bạn trai, nhưng trong lời hát cũng có chút ghen tị, ước gì mình có đôi chân khỏe mạnh để khiêu vũ với nàng trong tiệc cưới. Tôi thấy có một đoạn video do Michael Bubblé trình diễn theo kiểu chachacha với một đoàn người đang học rất hay. Bạn search Youtube sẽ thấy.

Đêm mùa hạ

dâu dại

Mùa này, dâu dại trong rừng bắt đầu chín. Chép một bài thơ để bạn đọc chơi cho vui. Thật tình tôi ngại dịch thơ lắm, vì rất nhiều khi tôi gặp những câu thơ tôi không biết dịch như thế nào. Nhưng bài thơ dưới đây nói về đêm mùa hè thật êm đềm. Tối qua, khi đóng cửa đi ngủ tôi thấy đom đóm lập lòe ở mấy bụi cây trước nhà gần khóm trúc, sau nhà ngay ở hàng rào tiếp với bìa “rừng.”

Summer Night

Đêm mùa hạ

Like a bell note shivered into fragments of fine sound:
The summer night. But silence and the stillness do astound.
Me more than all this strange-go-round
of multitudinously minted chord along the ground

Như tiếng chuông run rẩy vỡ thành mảnh vụn âm thanh:
Đêm mùa hạ. Sự tĩnh mịch làm tôi
Ngạc nhiên hơn tất cả những điều kỳ lạ đang quay cuồng
của muôn vàn khúc nhạc mới ra đời lan dài trên mặt đất

This is an edifice of silence, vast:
Into the chinks of silence sound will creep
A little while – and fall asleep
Its strength being spent and past.

Đây là một khối im lặng khổng lồ
Âm thanh sẽ rón rén thoát ra từ kẽ hở của im lặng
Một chốc sau – rồi sẽ ngủ say
Sức mạnh của nó phai mờ dần và biến mất

They say the crickets sing all night:
I know
They strike against the walls of silence
Insistently, a futile blow

Họ nói rằng loài dế ca hát suốt đêm
Tôi biết
Chúng tấn công vào bức tường im lặng
Tuy kiên trì, nhưng đó là một nỗ lực không thành

Kenneth Slade Alling (1887-1966)

Đêm mùa hạ – Bản dịch của Irieullmyes

Như tiếng chuông để rơi ngàn nốt vỡ
Đêm mùa hè yên tĩnh khiến lòng tôi
Ngạc nhiên hơn những điều lạ quay cuồng
Muôn khúc nhạc lan dài trên mặt đất.

Đây một khối khổng lồ từ im lặng
Dòng âm thanh rón rén thoát ra ngoài
Một lát sau chìm giữa giấc ngủ dài
Sức mạnh ấy dần phai mờ, biến mất.

Họ bảo rằng, dế suốt đêm ca hát
Tôi biết rằng
Bức tường im lặng lại bị chúng tấn công.
Tuy loài dế đã hết mực kiên trì
Song nỗ lực đổ ra đều vô ích.

Take this Waltz

Có thể ông có nhiều bản nhạc được dùng để khiêu vũ hơn, nhưng tôi chỉ biết có ba bài. Tôi muốn tản mạn với bạn ba bản nhạc khiêu vũ trước, dù có một vài chủ đề trong ca từ của Leonard Cohen tôi chú ý, thí dụ như Boogie Street và Babylon.

Tôi không hiểu tại sao người ta không thích khiêu vũ. Tôi thì cứ nghe nhạc trổi lên là thấy rộn ràng. Tôi rất thông cảm nhân vật John Clark trong phim Shall We Dance, trong khi chờ xe lửa nghe tiếng nhạc trong đầu và một mình xoay điệu Waltz giữa sân ga vắng người. Hồi nhỏ tôi thích nghe nhạc Waltz, bên mình gọi theo tiếng Pháp là Valse. Bản Valse đầu tiên tôi thích là “Dòng Sông Xanh.” Bây giờ ngồi đây vẫn nhớ “Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh, một dòng nồng ý biếc…” Nhạc Waltz nghe vui, rộn ràng, quay cuồng ngay cả khi ca từ nức nở. Có lẽ vì rộn ràng quay cuồng nên được gọi là bản luân vũ.

Trở lại với nhạc của ông Cohen, vì vừa nhắc đến nhạc Waltz, tôi mạn phép tản mạn về bản nhạc “Take This Waltz.” Ca từ của bản này rất đẹp và quyến rũ, dịch từ bài thơ “Pequeño vals vienés” (Little Viennese Waltz) của Federico Garcia Lorca, nhà thơ Tây Ban Nha và là một trong những nhà thơ ông Cohen thích nhất. Bản nhạc này ra mắt công chúng năm 1986 và trở thành bản nhạc đứng hàng đầu ở Spain.  Năm 1988 bản nhạc được tái bản, lần này ông song ca với nữ ca sĩ Jennifer Warnes.

Now in Vienna there are ten pretty women
There’s a shoulder where Death comes to cry
There’s a lobby with nine hundred windows
There’s a tree where the doves go to die
There’s a piece that was torn from the morning
And it hangs in the Gallery of Frost

Hiện giờ ở Vienna có mười cô gái đẹp.
Có bờ vai Tử Thần đến tựa vào để khóc than.
Có đại sảnh đường với chín trăm cửa sổ.
Có cái cây bồ câu đến để chết.
Có một mảnh của buổi sáng được xé ra
và đem trưng bày trong Phòng Triển Lãm Giá Băng.  

Thú thật, tôi không hiểu hết đoạn thơ (ca từ) này, nhưng nó làm tôi tưởng tượng ra một bức tranh siêu thực. Loại tranh mà họa sĩ vẽ đủ thứ khác nhau và rất chi tiết, tất cả đều đổ vào tràn đầy trong bức tranh. Mười phụ nữ xinh đẹp, Tử Thần, chín trăm cửa sổ trong một hành lang, cái cây là mộ địa của bồ câu, cái gì đó xé ra từ buổi sáng có phải là một mảnh của buổi sáng (?), Gallery of Frost là tên của phòng triển lãm tranh(?), tất cả những biểu tượng này, ẩn dụ này có liên quan gì đến nhau(?). Ông muốn nói gì trong đoạn thơ này, trong đó có hai câu nói về cái chết, một buổi sáng lạnh lẽo dường như là cuối thu?

Mỗi lần nghe nhạc của ông Cohen, tôi thường liên tưởng đến nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi thấy nét đồng dạng giữa hai nhạc sĩ này ở chỗ nhạc đơn giản, ít biến đổi tiết tấu, thường có những nốt trầm ở cuối câu hay cuối đoạn nhạc làm người nghe thấy “ngọt ngào.” Về ca từ thì thường nói về chủ đề sinh tử, vô thường của cuộc đời. Khi viết về mất mát trong tình yêu lời thơ dù có buồn cũng không thê lương nức nở. Và đặc biệt là tôi không hiểu hết ý thơ của hai ông. Tôi chỉ lờ mờ cảm nhận được điều hai ông gửi gấm qua ý thơ và tiếng nhạc. Điểm khác biệt giữa ông Cohen với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ca từ của ông Cohen nhắc đến tình dục nhiều hơn và khôi hài hơn. Ông Cohen có phê phán chiến tranh (trong một bản nhạc khác ông viết ai cho chúng ta license to kill and to maime) nhưng không sâu đậm như Trịnh Công Sơn.

Take this waltz, take this waltz
Take this waltz with the clamp on its jaws

Oh, I want you, I want you, I want you
On a chair with a dead magazine
In the cave at the tip of the lilly
In some hallway where love’s never been
On a bed where the moon has been sweating
In a cry filled with footsteps and sand

Và đây là một đoạn thơ đậm mùi tình dục:

Hãy nhận bản luân vũ này. Nhận nó.
Nhận nó như thể bị nó ngoạm chặt bằng bộ xương hàm.
Ôi, anh thèm muốn em, thèm muốn được yêu em, yêu em.
Trên cái ghế với quyển tạp chí không còn được xuất bản.
Trong cái hang ở trên đầu đóa hoa lilly.
Trong hành lang nơi không bao giờ có tình yêu.
Trên cái giường nơi ánh trăng vả mồ hôi.
Trong tiếng khóc lấp đầy bằng tiếng bước chân và cát.
 

Phần dưới là tiếp theo của bản nhạc, mỗi stanza tôi cố gắng (một cách khó khăn) dịch để bạn hiểu. Có một vài câu tôi chẳng biết ông muốn nói gì. Bạn nào thấy thì chỉ giúp, tôi xin cám ơn.


I, I-I-I
Take this waltz, take this waltz
Take its broken waist in your hand

Hãy nhận bản luân vũ này.
Hãy ôm cái vòng eo tan vỡ của nó.

This waltz, this waltz, this waltz, this waltz
With its very own breath of brandy and Death
Dragging its tail in the sea

Bản luân vũ này.
Cùng với hơi thở của nó nồng nặc mùi rượu Brandy và cái chết.
Kéo lê cái đuôi của nó trong biển cả.
 

There’s a concert hall in Vienna
Where your mouth had a thousand reviews
There’s a bar where the boys have stopped talking
They’ve been sentenced to death by the blues
Ah, but who is it climbs to your picture
With a garland of freshly cut tears?

Có phòng trình diễn nhạc ở Vienna.
Nơi đôi môi của em được cả ngàn lời nhắc đến.
Có tiệm rượu nơi bọn con trai không trò chuyện với nhau.
Chúng bị xử tử hình bằng những bản nhạc blues.
Ah, nhưng ai đã leo vào khung ảnh của em.
Với một vòng nguyệt quế mới tinh, kết bằng những giọt nước mắt.
 

I, I-I-I
Take this waltz, take this waltz
Take this waltz, it’s been dying for years

Hãy nhận bản luân vũ này.
Nhiều năm nay nó đã chết héo.

There’s an attic where children are playing
Where I’ve got to lie down with you soon
In a dream of Hungarian lanterns
In the mist of some sweet afternoon
And I’ll see what you’ve chained to your sorrow
All your sheep and your lillies of snow

Có cái phòng sát với trần nhà nơi trẻ con chơi đùa.
Cũng là nơi tôi sẽ được nằm xuống bên cạnh em.
Trong giấc mơ về những cái lồng đèn của người Hungary.
Trong sương mù của một buổi chiều ngọt ngào.
Và tôi sẽ nhìn thấy điều gì đã trói em vào những sầu muộn.
Cả bầy cừu và những đóa hoa tuyết trắng như lillies.
 

I, I-I-I
Take this waltz, take this waltz
With its “I’ll never forget you, you know!”

Hãy nhận bài luân vũ này.
Cùng với câu “Anh sẽ không bao giờ quên em, em biết không!” của nó.

This waltz, this waltz, this waltz, this waltz
With its very own breath of brandy and Death
Dragging its tail in the sea

Bài luân vũ này
Cùng với hơi thở của nó sặc sụa mùi brandy và tử khí
Kéo lê cái đuôi của nó trong đại dương

And I’ll dance with you in Vienna
I’ll be wearing a river’s disguise
The hyacinth wild on my shoulder
My mouth on the dew of your thighs
And I’ll bury my soul in a scrapbook
With the photographs there, and the moss
And I’ll yield to the flood of your beauty
My cheap violin and my cross
And you’ll carry me down on your dancing
To the pools that you lift on your wrist
Oh my love, oh my love
Take this waltz, take this waltz
It’s yours now, it’s all that there is

Anh sẽ khiêu vũ với em ở Vienna.
Anh sẽ hóa trang thành dòng sông.
Đóa hoa hyacinth cài trên vai.
Môi anh hôn lên những giọt sương mật trên đùi em.
Và anh sẽ chôn lấp linh hồn trong quyển lưu niệm.
Với tất cả hình ảnh trong đó, và rong rêu.
Anh sẽ đầu hàng trước cơn lũ yêu kiều của em.
Cây vĩ cầm rẻ mạt và cây thánh giá của anh.
Em sẽ dìu anh nằm xuống bằng những bước khiêu vũ của em.
Đưa anh đến những trái banh màu sắc em nâng trên cổ tay.
Ôi em yêu, ôi em yêu.
Hãy nhận bản luân vũ này.
Bây giờ nó là của em và tất cả những gì anh có chỉ là bản nhạc này thôi.

Take This Waltz được trình diễn trong phim cùng tên do Michelle Williams diễn vai chính. Như đã nói ở trên có những câu thơ rất đẹp nhưng tôi không hiểu hết ý thơ. Thí dụ như “To the pools that you lift on your wrist.” The pools ở đây là gì?

Nhưng mà, dù không hiểu hết chỉ cần nghe điệu nhạc Waltz, chách chách chùm chách chách chum là cũng đủ êm tai và nhột chân rồi. Phải không?

Nghĩ vụn chuyện dịch

Dr. Louise Banks: Despite knowing the journey… and where it leads… I embrace it… and I welcome every moment of it.

Đây là một câu trích dẫn từ phim Arrival. Tôi xem phim này đã lâu, xem tất cả ba lần. Lần thứ nhất, tôi xem phim này trong Blu-Ray DVD. Xem luôn phần phụ trội những chi tiết liên quan đến việc làm phim, trong đó có phần âm nhạc (sound score), làm sao cho có vẻ như là âm thanh từ người hành tinh khác (aliens). Phần sound score của Arrival là của Jóhann Jóhannsson (J. J.) . Ông J. J. có mời một ban nhạc chuyên dùng âm thanh của người nhưng cách âm thanh được phát ra thật khác lạ, có thể nói là kỳ dị, nghe giống như âm thanh của loài vật hay ở trong trường hợp này là người ở hành tinh khác để giúp ông sáng tác âm nhạc cho phim Arrival. Một hôm tôi chợt nhớ đến phim Winged Migration, trong đó phần nhạc đệm là do Bruno Coulais phụ trách. Ông Coulais sở trường dùng âm thanh của loài người, bắt chước tiếng đập cánh, tiếng thở phì phò của loài chim, rất tuyệt vời. Tôi muốn biết chữ trong khoa học được dùng để chỉ bộ môn sử dụng âm thanh này. Rồi nhớ mang máng là trong phim Arrival có. Tôi mượn phim lần thứ nhì, lần này là đĩa phim thường không phải Blu-ray DVD,  không có phần phụ trội. Tôi lại mượn phim này lần thứ ba, Blu-ray DVD. Mỗi lần mượn phim từ thư viện, những phim mới và được giải thưởng, tôi phải chờ đến lượt mình cả tháng, hay hơn. Xem đi xem lại không tìm ra chữ khoa học cho bộ môn sử dụng âm thanh người phát ra cho giống tiếng chim, hay tiếng aliens. Có từ acoustic design, có lẽ là chữ mà tôi muốn tìm. Acoustic engineering được định nghĩa là khoa học dùng để thiết kế, phân tích, và kiểm soát âm thanh. Trong khi đi tìm chữ nói về âm thanh tôi gặp lại câu nói của Tiến Sĩ Louise Banks.

Tôi không phải là người dịch chuyên môn, cũng không dịch giỏi. Chỉ dịch tạm tạm theo cái mình hiểu. Nhưng thỉnh thoảng ngồi suy nghĩ một vài chữ, thấy thú vị. Thí dụ như câu nói trên:

T. S. Louise Banks: Mặc dù biết được cuộc hành trình, nơi sẽ đến, tôi “ôm chầm choàng” lấy nó, và đón mừng nó từng giây phút.

Tôi thấy thú vị nhất là chữ “embrace.” Thú vị vì chữ này cho tôi nhìn thấy rõ sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Việt và Mỹ. Người viết phim kịch (Eric Heisserer) dùng chữ embrace thật hay, có vẻ văn chương đầy vẻ gắn bó, thân thiết, chờ đón, chấp nhận như vòng tay ôm của hai người thân lâu ngày gặp lại nhau. Họ dùng chữ embrace (ôm lấy, ôm chầm choàng), một hành động cụ thể và trực tiếp, cho một cuộc hành trình vốn là một diễn tiến về di chuyển của một người bao gồm cả khái niệm thời gian và không gian.

Người Việt mình ít khi dùng chữ ôm vì ít khi ôm nhau. Mẹ và con trai không ôm nhau khi đã là người lớn. Cha và con gái cũng vậy. Mẹ và con gái còn có đôi khi chứ cha và con trai lại càng không ôm nhau. Trai gái tránh không ôm nhau trước mặt người khác bởi vì cái quan niệm nam nữ thọ thọ bất thân vẫn tồn tại trong tâm thức của người Việt. Chia tay muôn trùng, người đi kẻ ở không ôm nhau. Xa nhau lâu ngày gặp lại, cũng không ôm. Bày tỏ sự vui mừng, không ôm. Tội nghiệp một người không may, cũng không ôm. Cái ôm thường để chỉ hành động cụ thể, ôm một cái gì cụ thể, ngay cả như ôm cột nhà, ôm cây dừa, ôm tảng đá, ôm người, chứ không ôm lấy như một sự chào đón nhiệt tình đối với một quan niệm hay một ý nghĩ, hay một cuộc hành trình trong tương lai. Chữ ôm trong câu nói của Louise Bank không chỉ  là chấp nhận hay tiếp nhận mà còn hân hoan chào đón; chứ không là ôm theo nghĩa cụ thể nữa. Cách dùng chữ sao mà hay!

Chỉ nghĩ bâng quơ đủ để thấy dịch là một công việc “rất” thú vị và tổn hao tâm sức. Tôi nói lảm nhảm một mình, xin bạn đọc đừng để ý.