Dịch vài câu trích dẫn trong

The Stories of Your Life – Ted Chiang

“There is a joke that I once heard a comedienne tell. It goes like this: I’m not sure if I am ready to have children. I asked a friend of mine who has children, ‘Suppose I do have kids. What if when they grow up, they blame me for everything that’s wrong with their lives?’ She laughed and said, ‘What do you mean, if?”

That’s my favorite joke.”

Tôi có lần nghe một chuyện đùa do một phụ nữ chuyên về hài kịch kể lại. Câu chuyện như thế này: “Tôi không quả quyết lắm liệu tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để có con. Tôi hỏi ý kiến một người bạn đã có con rồi, ‘Giả dụ như tôi có con. Nếu như khi con tôi lớn lên chúng nó đổ lỗi cho tôi về tất cả những hư hỏng thất bại trong đời của chúng thì làm sao?’ Bạn tôi cười lớn rồi nói, Bạn có ý gì khi nói, nếu như?’”

“Đó là câu chuyện đùa mà tôi thích nhất.”

“For me, thinking typically meant speaking in an internal voice; as we say in the trade, my thoughts were phonologically. My internal voice normally spoke in English, but that wasn’t a requirement.” page 126

“Đối với tôi, suy nghĩ có nghĩa là tiếng nói trong nội tâm; chúng ta nói như vậy trong lãnh vực của chúng ta, tư tưởng của tôi được ghi lại bằng giọng nói. Giọng (nói) nội tâm của tôi thì nói bằng tiếng Anh, nhưng đó không phải là một điều phải như vậy.”

“I used to wonder what it was like to have one’s thoughts be manually coded, to reason using an inner pair of hands instead of an inner voice.”

“Tôi thường tự hỏi rằng không biết nó ra làm sao nếu tư tưởng của một người được đổi thành ra dấu bằng tay, để giải thích một điều gì đó người ta dùng đôi bàn tay trong nội tâm thay vì giọng nói trong nội tâm.”

“Humans had developed a sequential mode of awareness, while hetapods had developed a simultaneous mode of awareness. We experienced events in an order, and perceived their relationship as cause and effect. They experienced all events at once, an perceived a purpose underlying them all. A minimizing, maximizing purpose.” page 134

“Loài người đã phát minh ra cách nhận thức theo thứ tự trước sau, trong khi loài “thất túc” lại phát triển nhận thức cùng một lúc và ngay tức khắc. Chúng ta trải nghiệm vấn đề thực tế theo thứ tự và nhìn thấy quan hệ giữa những trải nghiệm nhận thức này theo cung cách nguyên nhân và hậu quả. Loài thất túc thì trải nghiệm tất cả mọi việc ngay cùng một lúc và tức khắc, và nhìn ra một mục đích bao gồm từ tất cả những điều này. Một thứ mục đích vừa giảm thiểu lại vừa phát huy.”

“The hetapods are neither free nor bound as we understand those concepts; they don’t act according to their will, nor are they helpless automatons. What distinguishes the hetapods’s mode of awareness is not just their actions coincide with history’s events; it is also that their motives coincide with history/s purposes. They act to create the future, to enact chronology.” p. 137

“Loài thất túc không được tự do cũng không bị ràng buộc theo sự hiểu biết của chúng tôi về những quan niệm ấy; họ không phản ứng theo ý định của họ, nhưng họ cũng không phải là loại ngu đần vô dụng. Điều đặc biệt về cách nhận thức của loài thất túc là không những hành động của họ trùng hợp với những biến chuyển sự cố của lịch sử mà những động cơ thúc đẩy hành động của họ cũng trùng hợp với lịch sử (hay/và mục đích). Họ hành động để sáng tạo nên tương lai, để thực hiện tiến trình lịch sử.

“Freedom isn’t an illusion; it’s perfectly real in the context of sequential consciousness within the context of silmultaneous consciousness. Freedom is not meaningful, but neither is coersion; it’s simply a different context no more or less valid than the other.”

“Tự do không phải là một hình ảnh minh họa; nó hoàn toàn có thật trong cái hoàn cảnh của ý thức xảy ra theo thứ tự trước sau  trong vòng hoàn cảnh của một ý thức xảy ra đồng thời. Tự do không có nghĩa lý gì cả, nhưng sự ép buộc cũng như thế; đó chỉ đơn giản là hoàn cảnh khác nhau, giá trị vững chắc của cái này không hơn hay kém cái kia.”

“Knowledge of the future was incompatible with free will. What made it possible for me to exercise freedom of choice also made it impossible to know the future.”

“Sự hiểu biết về tương lai thì không tương xứng với ý thức tự do. Điều giúp tôi có thể thực hiện sự tự do chọn lựa lại đồng thời khiến tôi không thể nào biết được chuyện tương lai.”

“Like physical events, with their causal and teleological interpretations, every linguistic event had two possible interpretations: as a transmission of information and as the realization of a plan.” page 140

“Như những sự kiện cụ thể, được diễn dịch theo thứ tự trước sau hoặc là theo cách xảy ra đồng thời đồng loạt, mỗi sự kiện ngôn ngữ có thể có hai cách dịch: hoặc là như một sự trao đổi thông tin hoặc là như một hiện thực hóa của một dự tính.”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s