Tản mạn từ “chương” đến “trường”

Lâu rồi, có lần gom góp trí nhớ để viết một bài tản mạn, bỗng dưng tôi nghĩ đến vài câu thơ trong bài thơ Hồ Trường. Những lúc đi đâu xa với ông Tám ngồi trong xe tôi thường được nghe bài thơ này. Và lúc lên giường bắt đầu thiu thiu ngủ tôi cũng được nghe. Trong xe tôi không có CD này mà chỉ có vài băng cassette nhạc cũ trước năm 75. Một cái may mắn của tôi là tôi cũng thích nghe loại nhạc ông Tám thích. Tôi nghĩ chẳng có gì kém may mắn cho bằng phải nghe loại nhạc mình không thích.

Tôi làm việc chung với một người Mỹ thích nghe nhạc. Tôi không rành âm nhạc Hoa Kỳ nên không phân biệt được nhạc ông nghe là nhạc gì. Chỉ thấy ông mở radio hơi to, và thỉnh thoảng có một giọng hát cao, nghe the thé xoáy vào tai tôi, rất phiền toái. Phiền nhất là ông mở nhạc nhưng không ngồi đó để nghe. Khi tôi cằn nhằn, xin ông vặn nhỏ lại, thì ông nói, vặn nhỏ ông không nghe, chắc ông bị điếc. Tôi cũng bị điếc nhưng nhạc ông nghe xoáy vào tai tôi như những lời xỉa xói. Ông nói ông cần có âm thanh “white noise” chung quanh ông, không có nhạc ông không làm việc được. Bà thư ký, ngồi gần bàn của ông, thỉnh thoảng lại quát to: Charlie, làm ơn tắt cái radio của ông có được không. Có lần có người nào đó đã tháo dây điện ném cái radio của ông vào sọt rác. Hôm sau ông đến sở thấy mất toi cái radio lại mang vào cái khác. Cách đây vài hôm ông về hưu. Trước đó cả nhóm tổ chức tiệc đãi ông. Hôm sau ông mang đến một cái bánh to, mang bánh đến từng phòng để mời. Tôi nhận bánh, cám ơn và nói nửa đùa nửa thật, thật nhiều hơn đùa. “Ông nhớ mang cái radio của ông ra khỏi chỗ này nhé.” Ông cười xí xóa. Thật ra tôi ghét cái loại nhạc Charlie nghe chứ không phải cái radio.

Tôi không ghét nhạc ông Tám nghe nhưng không có nghĩa là ông thích nhạc tôi nghe, vì tôi tò mò nghe đủ thứ loại, nghe cho biết. Tuy nhiên, cả hai chúng tôi đều thích nghe ngâm bài Hồ Trường. Trong lúc đi rừng ngẫm nghĩ đến bài tản mạn chưa viết, tôi nhớ đến mấy câu thơ.

“Công chưa thành, danh chẳng đặng. Tuổi trẻ bao lâu mà đầu bạc.” Khi viết tôi không để ý, sau này tôi mới biết là tôi viết sai, nhớ sai. Trong bài thơ tôi được nghe Trần Lãng Minh ngâm như sau:

“hồ cương thường hạ tất tiêu dao,
công chưa thành, danh chẳng đạt
tuổi trẻ bấy lâu mà đầu bạc
vỗ gươm mà hét, nghiêng bầu mà hỏi”

Wikipedia Việt viết rằng Nguyễn Bá Trác dịch bài thơ từ bản phiên âm Hán Việt như sau:

Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà dương.

Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Mấy câu trong trí nhớ của tôi có vài chữ khác với bài thơ Trần Lãng Minh đã ngâm nhưng không khác nghĩa (cho lắm). Mấy câu của Trần Lãng Minh cũng hơi khác với mấy câu thơ ông Nguyễn Bá Trác dịch nhưng cũng không làm khác nghĩa. Nếu, nhấn mạnh chữ nếu, câu thơ của Nguyễn Bá Trác dịch là chưa thành và chửa lập thì cái sai của tôi sẽ nặng hơn vì chưa thành và chửa lập vẫn còn có chỗ để hy vọng.

Cái câu tiếp theo trong bài thơ do Trần Lãng Minh ngâm “vỗ gươm mà hét, nghiêng bầu mà hỏi” nghe có vẻ khí khái của một tráng sĩ hơn là bản dịch của Nguyễn Bá Trác.

Thơ văn từ trí nhớ người này sang trí nhớ người khác tam sao thất bổn cũng nhiều. Nhìn qua văn học truyền khẩu, một bài ca dao biến dạng thành ra nhiều phiên bản giống giống nhau cũng nhiều. Thí dụ như:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều

và,

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

Dường như người viết, nhất là tôi, thường hay đổi câu thơ (không phải của mình) cho phù hợp với tâm trạng của mình trong một tình huống nào đó. Có lần tôi nhớ sai bét mấy câu thơ của Phạm Công Thiện (thần tượng của nhiều thi sĩ và triết gia Việt). Bây giờ chẳng còn nhớ mấy câu thơ chỉ nhớ có mùi hương trên đồi Tây hay đồi Đông. Thật là, khi nhắc đến hay trích dẫn thơ văn của ai đó, phải cẩn thận, dù chỉ là một bài tản mạn, bởi vì trí nhớ hay đánh lừa khổ chủ.

Cũng trong lần đi rừng, hôm ấy ông Tám hỏi tôi có biết Hồ Trường có nghĩa là gì không. Dĩ nhiên là tôi không biết nên nghĩ vẩn vơ. Chữ trường làm tôi liên tưởng đến ruột già (haha) như dồi trường. Thì hình như khúc trên của bài thơ có câu “Đại trượng phu không ai xé gan bẻ cật” đó mà. Từ gan đến cật đến ruột đều nói về lòng dạ con người, không phải vậy sao? Bây giờ thì tôi đã biết (dĩ nhiên) là không phải. Tôi nói, chắc là người ta chứa rượu vào mấy cái bong bóng hay bao tử bò, hay bao tử trâu, thấy trong phim xưa, viễn khách đi đâu cũng mang theo bao rượu. Ông Tám thêm vào, hay hồ trường nói về rượu chứa trong mấy cái sừng trâu sừng bò khổng lồ mà các hiệp khách lấy ra ngửa cổ mà tu rượu.

Thật khó mà nghĩ ra chữ trường là từ chữ thương, có nghĩa là cái chén uống rượu, và uống rượu một mình, và kính trọng mời người uống rượu.

Nghĩ đến sự tam sao thất bản của văn thơ từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác, thật là phải cẩn thận với những gì viết qua trí nhớ mà không cẩn thận kiểm chứng. Bây giờ thấy chữ kiểm chứng được thay thế bằng rà soát lại. Bạn đọc nếu muốn biết thêm xin đọc link này. Wikipedia Hồ Trường.

 

2 thoughts on “Tản mạn từ “chương” đến “trường””

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s