CON ĐƯỜNG TƠ LỤA P. 3

Tác giả: Bernard Ollivier; Đặng Đình Túy lược thuật.

Khoảng 17g chiều ông đạt đến địa điểm mà ông dự tính khi sáng, Ambardjeu. Tính theo bản đồ ông đã đi 35km kỳ thật phải cộng thêm những đoạn đường đi lạc nên có thể ông đã đạt tới hơn 40 cây số đường bộ trong ngày! Sự gắng sức đã khiến thân thể cưỡng lại sự ngừng nghỉ khi vừa nhìn thấy điểm đến. Trong những ngày đầu vì các cơ bắp bị đòi hỏi phải cố gắng quá nhiều nên lúc nghỉ mình mẩy ta ê ẩm khó lòng để bắt đầu một ngày mới. Thêm vào đó các vùng cọ xát nhiều như bàn chân, đùi, mông cùng những chỗ va chạm thí dụ hai vai, lưng và mông chịu sức nặng của bị mang đều phồng và dộp, dù rằng những loại thương tích như vậy chỉ ở phía ngoài da, sẽ lành trong vòng 10 ngày thôi. Bernard đã đốt giai đoạn sớm: ngày hôm sau ông sẽ đến Sakarya cách 202 cây số kể từ điểm khởi hành mà khi ở nhà ông dự tính sẽ đi trong 8 ngày; ngày mai chỉ mới là ngày thứ sáu của cuộc hành trình.

Trong cuộc di chuyển đơn độc như thế này, người bộ hành chịu trách nhiệm hoàn toàn thân xác hắn, cùng bao hành lý đựng quần áo, thuốc men, chăn màn… Nếu tính toán sai lầm thì chính hắn sẽ phải gánh chịu mà không thể nhờ vả vào ai khác. Hắn trơ trọi bởi bất đồng ngôn ngữ, bởi những sai sót của cái bản đồ mà hắn dùng,  của con đường chọn lựa để di chuyển. Trong gói hành trang, Bernard có hai tấm thẻ nhựa, một dùng để rút tiền và một để gọi điện thoại nhưng chúng chỉ hữu dụng khi ông di chuyển trên phố, còn giữa đồng vắng giữa làng quê thì chúng vô dụng. Chỉ còn trông chờ nơi bàn tay và tấm lòng của những con người hoàn toàn xa lạ ở những nơi chốn mà ông đi ngang qua.

Làng Ambardjeu vắng ngắt. Ở sân làng, trước mặt nhà thờ, một đứa trẻ chơi với cái niềng xe rỉ sét. Quán bán rau cải đóng cửa. Có chiếc băng công cộng đón thân xác người lữ hành mỏi mệt. Chờ mãi chẳng thấy chủ quán, ông dạo một vòng quanh làng. Cuối cùng một người râu bạc tay cầm liềm băng qua sân làng. Thằng bé ngừng chơi báo cho ông biết đấy là chủ quán bán rau cải. Chạy suốt chiều dài cửa sổ của tiệm xếp hàng những gói kẹo, bánh ngọt phủ đầy bụi và cứt chuột. Nhìn cửa hàng rồi nhìn dáng chủ nhân OB đoán là ông ta làm lụng ngoài đồng nhiều hơn ở cửa hiệu. Biết Bernard từ đâu tới và sẽ đi về đâu, ông ta tỏ ra ân cần, cứ hai ba điều thì lại hỏi xem khách có mệt không, vì vậy Bernard bèn đưa ra tờ giấy (bằng Thổ ngữ) trên ấy giải thích bằng những lời lẽ ắt là rất văn chương mục đích chuyến đi của ông cùng là lời yêu cầu giúp đỡ, chẳng hạn một giấc ngủ qua đêm. Chủ nhân đọc rất kỹ và sau đó chỉ vào ngực mình ra dấu bảo chính ông sẽ cung cấp nơi ăn ngủ cho OB. Miệng truyền miệng, chỉ một chặp sau dân làng lũ lượt kéo đến nhìn mặt anh ngoại nhân mặc quần cộc áo thun du hành bộ xuyên đất nước họ. Họ càng đến nhiều thì niềm hãnh diện của chủ nhân càng tăng thêm. Cuối cùng khi khách khứa đã ra về, chủ nhân dọn cơm, hai người mặt đối mặt, phục sức tề chỉnh nhưng ngồi trên thảm, thật khó cho kẻ quen ngồi bàn như OB. Đêm, ông bị đánh thức bởi con gà cồ mơ ngủ nào đấy rồi sau đó là giờ cầu nguyện, tiếp đến là bọn gia súc đòi ăn. Khoảng  6g30, ông thức giấc. Chủ nhân làm như chỉ chờ đợi có chừng ấy nên đã lên tiếng mời khách vào bàn điểm tâm. Khi khách đã nai nịt gọn ghẻ chủ nhân ngõ ý sẽ đưa chân khách một đoạn đường. Ánh sáng mặt trời chiếu qua làng bày ra một cảnh tượng tươi đẹp. Hai người cùng đưa mắt ngắm : “Đẹp chứ nhỉ ?” Khách gật đầu đồng ý. Suốt cuộc sống từ bảy mươi mốt năm qua, người nông dân ấy chỉ rời khỏi làng có hai bận, một bận để dự đám cưới hai đứa con trai và một bận ra thành phố; tuy hai hướng khác nhau nhưng khoảng cách thì gần như nhau, bốn mươi cây số! Ra khỏi làng một quãng độ cây số họ dừng lại, giờ chia tay đã điểm. Bernard đưa tay bắt, ông ta cầm lấy tay nhưng kéo khách lại gần, đưa cả hai cánh tay ra ôm chầm lấy. Một chiếc cày máy chạy về phía làng đón ông ta quay lại, bỏ Bernard tần ngần nhìn theo người bạn dù chỉ mới quen từ hôm qua…

Dự tính cuối ngày sẽ dừng lại tại một thành phố có tên là Sakarya với con đường đi không khó và đây là lần đầu tiên những chi tiết ghi trên bản đồ ăn khớp với địa thế thật bên ngoài. Đi thong thả, đến giữa trưa thì ông ngang qua một quán nước. Những người ngồi trong quán gọi với ra mời : Vào đây uống trà. Vào thì vào. Anh từ đâu tới? Từ Istanbul. Chắc không cuốc bộ chứ? Cuốc bộ! Thế là mọi người xúm lại: Anh từ xứ nào đến đây? Có thật là anh đã cuốc bộ từ Istanbul về? Và sẽ đi đến đâu nữa? Anh làm nghề gì? Có vợ không? Được mấy con? Người Thổ nhĩ kỳ là những kẻ tò mò và họ làm việc ấy mà không hề thấy chướng. (13)

Thành phố Sakarya không có gì hấp dẫn. Qua khỏi nơi này, cảnh vật đổi thay. Những đồng bằng mênh mông nơi đó người ta trồng toàn rau. Xa hơn, nơi chân trời là những rặng núi tím. Mục tiêu kế tiếp của OB sẽ là Hendek. Ông chọn con đường nhỏ song song với xa lộ nối Istanbul và thủ đô Ankara thay vì đi trên những con đường đầy đặc xe cộ, đã lo lắng sợ hãi mà cũng chẳng nhìn ngắm được phong cảnh gì cả. Từ Hendek theo nguyên ngữ có nghĩa là quán trọ, OB hy vọng tìm thấy ở đây dấu vết của con đường tơ lụa xưa. Một y sĩ người Thổ có viết cuốn sách nghiên cứu về mặt thương mại của vùng, thú nhận với OB là khó tìm ra dấu vết gì của quá khứ. Những kiến trúc cũ đã bị phá sạch, một trong những kiến trúc bị san bằng sau cùng vào năm1928 nơi  đó bây giờ là một ngân hàng. Một nhà nghiên cứu người Đức vài năm trước cũng đã tìm thấy dấu vết con đường mà các đoàn xe thương hồ đi qua, đã lát đá lại nhưng sau đó dân chúng cạy đá khuân đi mất. Dân Thổ ít quan tâm bảo vệ các di tích cổ ngoại trừ nhà thờ và những kiến trúc có tính chất tôn giáo.

Sau một ngày nghỉ dưỡng sức và để cho phép các vết thương khô miệng, Bernard lại lên đường. Trên bản đồ có ghi con đường nhỏ Yeshilyaya nhưng vào giờ tang tảng sáng này chẳng có ai giúp được ông. Sau vài ba lần đi tìm và lạc vào sân vườn nhà người, chán nản, ông bèn theo quốc lộ 100 xuyên qua Thổ nhĩ kỳ từ tây sang đông. Sau đó trên đường đi, khám phá ra một con lộ nhỏ và men theo đấy. Mồ hôi ướt đẫm chiếc áo thun, OB chui xuống gậm cầu thay áo. Đúng vào lúc ấy một chiếc xe tuần tiễu của nhà binh chạy ngang qua. Trông thấy kẻ khả nghi họ lui lại thắng xe, những người lính nhảy xuống vây quanh lữ khách, hờm súng. Sau hồi kiểm soát giấy tờ và liên lạc truyền tin với cấp trên, họ thả ông ra. Ông lại bị lạc đường rơi nhằm những cánh đồng trồng dẻ mênh mông. Gặp một nông dân già mời uống nước ông ngừng lại sẵn dịp hỏi thăm lối đi. Sau chầu giải khát người con trai lái máy cày có móc rờ -mọt chở ông đến điểm khởi hành để tìm về Hadjyacoup. Mặc dù ngày đã tàn và người ta khuyên ông không nên di chuyển sau 6g chiều nhưng ông vẫn tiếp tục cho đến 7g chiều mới đến một thị trấn có tên là Gueulyaka. Không có khách sạn, hỏi thăm đường để cố đi đến Hadjyacoup thì những người trẻ đang chơi bóng bảo ít ra phải đến 15 cây số trong khi trên bản đồ chỉ độ 7 cây. -Liệu khi đến đấy có chỗ nghỉ không ?- Không, tôi không nghĩ vậy. Vả, trời tối rồi và chúng tôi sẽ rất hân hạnh đón tiếp ông. Một bên thì tỏ ra sốt sắng hân hoan đón khách, một bên thì mỏi mệt và thất vọng vì vất vả qua một ngày đường, tại sao không nhận lời ? Đó là một cư xá dành cho sinh viên mọi ngành, và cư xá thì do một tổ chức tôn giáo trông coi. Các sinh viên đều là những kẻ thuần tín nên chế độ học hành cũng rất nghiêm minh. Vì là mùa nghỉ hè nên có một số về quê bỏ phòng trống, họ đưa Bernard vào nghỉ ở một trong những phòng trống ấy. Mặc dù các cậu sinh viên đã dùng cơm tối, anh bếp vẫn vui vẻ xắn tay áo làm thức ăn lần nữa đãi khách trong thời gian khách tắm rửa. Người sinh viên chịu trách nhiệm khu học xá này đã đặc biệt chú ý săn sóc Bernard. Tất nhiên là mọi người chất vấn khách không ngớt một phần bằng vốn Anh ngữ khái lược của họ cộng với khả năng eo hẹp của Bernard về phần ngôn ngữ địa phương. Cậu trưởng lớp tìm cách ngăn bớt những lời chất vấn để khách có cơ hội nghỉ ngơi. Sáng hôm sau anh ta lo chuẩn bị điểm tâm sớm nên khi khách thức giấc thì mọi sự đâu đã vào đấy. Mọi người quây quần ăn uống và anh ta còn giải thích cho ông nhà thuốc để họ soạn cho Bernard dùng mục đích giúp mau lành các vết lở. Khi Bernard từ biệt anh ta ôm khách nói : Cảm ơn chú Bernard. Ý nghĩ của Bernard cũng y như ý nghĩ của tôi (người thuật chuyện bằng Việt ngữ, xem chú thích dưới đây) « Anh ta cảm ơn tôi ư ? Thử tưởng tượng rằng việc này xảy ra trong một thôn xóm Pháp xem sao. Bạn có nghĩ rằng người ta sẽ cảm ơn bạn chăng? » (14)Sau đó trong một ngôi làng mà OB ngủ qua đêm, một viên giáo chức đã kể cho ông nghe rằng ngày xưa, trong mỗi làng đều có một ngôi nhà hoặc một căn phòng dành cho khách lạ; và ông kết luận rằng cho dù truyền thống đó không được duy trì đến ngày nay nhưng cách mà người ta đón tiếp giúp đỡ ông tu khi ông khởi hành ở Istanbul thì quả thật là họ đã không hổ thẹn với truyền thuyết ngày trước.


(13)  Theo phép lịch sự Tây phương, không ai tò mò về đời tư kẻ khác khi mới gặp lần đầu.

(14)  Tất nhiên ở đâu cũng có kẻ tốt người xấu nhưng tính hiếu khách của người Thổ nhĩ kỳ cộng với niềm tin trong giáo lý Hồi giáo đã khiến họ nâng việc tiếp đãi khách lỡ độ đường thành một nghi thức trang trọng.

One thought on “CON ĐƯỜNG TƠ LỤA P. 3”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s