Tam thập dư niên hậu

Tác giả: Đặng Đình Túy

                                                            Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu
(Chu Mạnh Trinh)

Ở đất Tề, đời Thiệu đế có gã nhạc sĩ hát không hay và đàn không giỏi. Bọn hạ nhân lúc đầu nghe đến tên chàng đều bỉu môi chê bai: “Lũ chúng ta chưa bao giờ biết một nhạc sĩ mà giọng hát như nước lỗ cống chảy và tiếng đàn thì như cát vãi vào bãi sậy. Ở đời sao lại có những anh bất tài đến vậy mà dám lớn lối tự cho mình là bậc tài tử?” Lời dèm xiểm có khi đến tai, nhạc sĩ chỉ quay mặt giả vờ không nghe thấy. Nhưng có lần một kẻ kia, áo khăn coi ra cũng chững chạc tìm đến vái chào và xin nhạc sĩ tấu cho nghe vài bản mà người cho là đắc ý nhất. Thấy kẻ lạ, lại nhận thấy dáng vóc cũng ra chiều nho nhã, nhạc sĩ bất đắc dĩ mời vào, dạy tiểu đồng pha trà ngon, dâng mỹ tửu, đốt trầm thơm, đoạn mở hòm lấy cây hồ cầm bằng gỗ quí đã mấy đời truyền lại tự nhiều tay danh cầm nghìn năm trước. Đã từng soạn hàng trăm khúc bi ca, hàng vạn lời xưng tụng tùy theo tâm cảm từng lúc, thương yêu đắm đuối lắm lắm mà sầu đau ê chề cũng dằng dặc không nguôi, cho nên khi có kẻ xin thưởng lãm, nhạc sĩ chỉ việc gãy lên tiếng tơ tùy theo cảm hứng lúc bấy giờ. Kẻ đối diện cung kính cúi đầu lắng nghe nhạc sĩ càng cảm thấy nguồn hứng khởi tuôn tràn đến tận mỗi đầu ngón tay và tâm hồn như rộng mở, tấu hết khúc này đến khúc khác; trong cơn cao hứng lại cất tiếng ca hòa theo điệu nhạc.Đêm dài cơ hồ đã vơi, bầu rượu cũng cạn, tiếng gà eo óc đâu đó báo hiệu sang canh. Người đối diện ngẩng đầu, lễ phép xin nhạc sĩ ngưng đàn đi nghỉ vì trời sắp sáng đến nơi. Vốn là kẻ khiêm cung, chưa bao giờ nhạc sĩ đặt câu hỏi với kẻ thưởng thức sự đánh giá về những sáng tạo của mình nhưng hôm nay, đứng trước trang thiếu niên anh tuấn nho nhã, lại thấy chịu khó ngồi suốt đêm thâu để nghe mình, nhạc sĩ tưởng chừng đã nắm chắc quá nửa tâm tình người đối diện, nghĩ rằng y phải hâm mộ mình lắm mới quên lửng đi mệt nhọc của đêm dài. Biết đâu chẳng là duyên Bá Nha gặp được Tử Kỳ? Chàng e dè cất tiếng: “Kẻ hèn này có điều muốn hỏi quí nhân, không biết có nhận ra được chút gì khả dĩ làm đẹp dạ chăng?” Kẻ nọ ngần ngừ: “Tiên sinh đã cho phép thì cũng xin tỏ bày ngu ý, thú thật, có lẽ bản thân chưa được thưởng thức điều hay điều lạ nên nghe ra dường như có chỗ khó thâm cảm. Vả chăng, nơi kinh đô -chốn mà kẻ hèn này trú ngụ –cũng có vô số bậc tài hoa tiếng đàn như nước đổ xuống lòng thác như vó ngựa xé gió giữa chiến trường mà lời ca khi bi tráng tưởng tiếng khóc của sương phụ tiếc chồng, con chim non mất tổ cũng không ai oán bằng; ngược lại khi vui tươi lảnh lót thì giọng loài họa mi liếng láu, hơi gió vi vu trên ngọn trúc buổi chớm sang xuân dù đầy ắp ưu ái hoan lạc tưởng cũng không thế nào tày được. Tiểu sinh đến đây lòng hâm mộ có thừa, đã cùng tiên sinh thức trắng một đêm dài những tưởng nắm được đôi điều thâm sâu của nghệ thuật, nào ngờ mình có lỗ tai vô duyên, trái tim lãnh cảm thật đã phụ lòng đại nhân nhiều quá!” Nói xong chẳng đợi cho kẻ nọ đáp lời, đã vội vã vái chào rồi quày quả bỏ đi không chờ cho ánh sáng ngày kịp đến, sương mù kịp tan. Còn lại một mình nhạc sĩ ngẩn ngơ không biết là đang phẫn hận hay đang thất vọng. Chàng rùng mình vì cơn gió heo may buổi sớm, lặng lẽ quay về thư phòng, nhìn sững ngọn nến lay lắt sắp tàn, chợt nhận ra trên chiếc sập gụ bên cạnh chồng gối ngũ sắc dùng để khách tựa mình, chiếc tín thiệp có hàng chữ rồng bay phượng múa kèm dấu triện son tưởng như còn óng ánh nét mực chưa khô. Thì ra đấy là tay biện thuyết khét tiếng chốn Tràng an mà một lời phán xét có thể giúp cho nghệ nhân trong bước đầu chỉ phút chốc đã chễm chệ tót lên ngôi cao của giới tài tử hoặc cũng chỉ phút chốc thôi, bị dìm sâu xuống đáy vực của lãng quên dù tài năng đã từng được người đời biết tới. Cái lịch lãm quán chúng cùng miệng lưỡi đanh thép của y khiến bất cứ kẻ nào trong làng nghệ thuật đều nhất nhất, nếu không xun xoe phỉnh nịnh thì cũng dè dặt lời ăn tiếng nói, bằng không e rằng có lúc phải phơi xác dưới ngọn bút lông mềm mại mà tưởng như có ngàn mũi thép nhọn đó.

Sau hôm người khách đến viếng, nhạc sĩ buồn rầu ngã bệnh. Không phải chàng e ngại dư luận quần chúng (điều ấy chàng chẳng xem là quan trọng vì người làm công việc sáng tạo trước nhất là cho chính mình) nhưng điều nguy hiểm là từ trước đến nay, ít ra chàng cũng đã tự lấy làm bằng lòng, thường là đối với tác phẩm vừa mới chào đời (tựa niềm vui người mẹ khi cho chào đời đứa trẻ bà cưu mang từ chín tháng qua) bây giờ chàng bỗng nghi ngờ chính tài năng mình (như bà mẹ không bằng lòng về đứa con mới sinh ra: đã có bà mẹ nào cảm thấy như vậy không, dù là đối với một trẻ sơ sinh tật nguyền?) Điều lạ là ngày trước nếu có bị chê bai, nhạc sĩ không hề hoang mang nghi hoặc, đôi khi nếu nhận thấy kẻ phê phán có chút ít hiểu biết, chàng cũng gượng dừng lại lên tiếng thanh minh: “Ta là nhạc sĩ, ta có phải là nghệ nhân trình diễn đâu. Ta chỉ là kẻ sáng tạo. Các ngươi mong cầu kỹ xảo ư? Kỹ xảo nhiều khi là kẻ thù của nghệ thuật; quá trau chuốt, quá thôi xao e lại đánh mất cái hồn nhiên của tâm thành. Nhưng nếu muốn kỹ xảo thì đấy: ca nhân là kỹ xảo của tiếng hát; nhạc công là kỹ xảo của tiếng đàn. Nhưng ta đây ta chỉ vụ ở tấm lòng. Cái rung động trong lòng có lúc thô vụng nhưng vẫn cuốn hút được kẻ thu nhận, nếu ngươi không thu nhận được là bởi ngươi không có một tấm lòng!” Nằm rũ liệt trên giường, chàng ôn lại những lý luận của mình và tự hỏi: phải chăng kẻ ấy cũng thiếu một tấm lòng? Khó mà tin như thế. Nhưng nếu không tin như thế thì chàng sẽ phải phủ nhận toàn bộ sự nghiệp mình, mọi sáng tạo của chàng tất phải ném hết vào sọt rác ư? Và bắt đầu lại. Nhưng với cảm hứng nào? Với đường hướng nào? Niềm hứng khởi, những rung động vang vọng trong mọi tâm hồn chúng ta chúng không hề được chọn lựa bởi lý trí. Ta chưa hề biết tại sao ta buồn; ta không hiểu vì lẽ gì ta vui. Nhưng chính cái hồn nhiên tự phát trong ta chúng lặng lẽ đón nhận (như những bông hoa mở cánh đón nhận giọt sương sớm) những hồi vui, khúc buồn mà chẳng cần lý trí ta điều động. Và khúc ca ta sáng tạo, đường tơ ta nỉ non, chúng từ đâu tới ta chẳng hề biết, ta chỉ nương theo sự rung động của tâm hồn như người họa sĩ nương theo đà của bàn tay đưa đẩy ngọn bút… Nhạc sĩ rũ rượi không thiết ăn uống, không buồn nhìn những cây đàn mà người từng nâng niu trân trọng, mối thất vọng đã lột trọn sức sống của chàng như ngày xưa đã một lần, khi người con gái duy nhất mà chàng yêu (và chàng tin rằng kẻ ấy cũng yêu chàng) bỏ ra đi. Tên tiểu đồng nín lặng dưới nhà nhưng vẫn lắng tai nghe ngóng dò chừng từng hơi thở của chủ nhân. Vùi mình trong đống chăn gối từ ngày nọ sang ngày kia, rồi một ngày sực tỉnh, chàng thét gọi bọn người làm: “Rượu! Rượu! Hãy mang rượu lại cho ta” Mềm môi chàng uống hết nậm rượu này đến nậm rượu khác cho đến khi không còn ý thức được gì nữa. Rồi chếnh choáng ra đi.

Con đường nhỏ màu thổ hoàng dẫn về hướng núi, chạy giữa những cánh rừng, xa là xám nhạt rồi xanh chàm, gần là lục thẫm, uốn lượn ven bờ con sông nhờ nhờ đục, lau sậy run rẩy lắt lay. Bên kia bờ con sông ấy nơi có chiếc cầu gỗ cong sơn son bắc qua, bọn thương nữ vẫn đêm đêm vui chơi ca hát, tiếng sên phách vang vọng lúc xa lúc gần khiến ngôi làng nhỏ bé tĩnh mịch thỉnh thoảng chau mày vì nghe động ý thức đạo đức của nghìn năm văn hiến. Mặc kệ! Những nàng kỹ nữ vẫn cong cớn trêu chọc khách qua đường:

Hãy dừng đây chàng say ơi
Mà điên cuồng lơi lả…
Đón muôn đời thanh sắc ngã trong vòng tay
Liễu xinh xinh thon dáng
Liễu cong đôi nét mày

Rồi mai đây
Thuyền buộc sông sâu
Ngựa dừng trăng khuyết…

…Xin bẻ thuyền quay lái
xin giục ngựa quay đầu

Về cùng chúng em
buồng xuân chờ cửa sổ
khóm trúc đợi thay màu…

Khách đã đi xa rồi vẫn còn nghe kèo nài:

Đêm hoa đăng vắng chàng thoi thóp lửa
tiếng đàn tiên rời rạc khúc thiên thai
Dừng nơi đây
mưa gió lạnh bên ngoài *

Nhạc sĩ ngất ngưởng ném cho tên lái đò mấy quan tiền, không chờ cho hắn kèm sát vào bờ đã bước đại lên cỏ khiến thuyền chòng chành kéo cả hai rơi tòm xuống nước. Khi hai người, quần áo ướt sũng, lóp ngóp bò lên bờ đã thấy một nữ lang đứng đấy từ lâu, che miệng cười. Thoáng chốc nàng lấy lại vẻ nghiêm trang mời chàng ghé qua nhà sưởi ấm, tiện thể hong khô quần áo. Độ chừng nàng cũng chỉ là một trong những người con gái chiêu khách, nhạc sĩ bằng lòng theo nàng về, định bụng bày cuộc mây mưa để quên nỗi bực bội từ mấy ngày qua. Loanh quanh qua mấy lối nhỏ thấy nhà nhà đều quay tơ ươm tằm, thì ra đây chẳng phải là xóm chị em như chàng tưởng. Cuối cùng họ rẽ vào một ngõ vắng hai bên dậu được trồng toàn cây dâu nuôi tằm. Hoa cúc nở vàng suốt mái hiên ngoài và một gốc liễu ủ rũ nghiêng mình che gần kín ngôi thảo trang. Vừa bước vào nhà chưa kịp phân chủ khách, chàng đã run lên bần bật, nữ nhân cuống quít cởi phăng quần áo ướt của nhạc sĩ lấy chăn màn trùm kín thân thể chàng và đốt lò than hồng đặt vào dưới chỗ giường nằm. Nhạc sĩ thiếp đi trong cơn mê…

 *

Năm mười bảy tuổi, nhân một buổi đi lễ chùa, nhan sắc nàng Lục Chân lọt vào mắt một hạ quan chuyên việc săn tìm gái đẹp dâng vua. Những tưởng ít nữa nhờ ơn mưa móc hẳn được sống đời gấm vóc lụa là; và biết đâu nếu gặp duyên có được mụn con trai (nghe đâu nhà vua đã có đến hai vợ nhưng chẳng bà nào mang lại được cho đức vua một hoàng nam) thì rất hy vọng trở thành hoàng hậu; nhưng tháng đợi ngày mong, xe dê chỉ đôi lần ghé bến mà chẳng thấy kết nụ đơm hoa. Thấm thoắt nàng đã xấp xỉ ba mươi. Những cô gái cùng thời đã dần dần hoặc xin về khoác áo nâu sồng tìm quên với tiếng mõ câu kinh, hoặc do chính nhà vua ban cho các cận thần gọi là để tưởng thưởng công lao. Lục Chân không thuộc vào hai thành phần vừa kể. Nàng vẫn còn sống trong khu của những nàng cung nữ trông chờ; nhưng tất cả họ còn là những đóa hoa hàm tiếu thuộc đợt tiến dâng cách hàng chục năm sau. Họ còn tươi mơn mởn, còn lanh lẹ như sáo, ngây thơ như nai, riêng nàng thì đã mỏi mòn, cơ hồ không còn trông đợi gì ngoài cuộc sống nhà tu. May thay, một võ quan hiếu sắc mê nàng đắm đuối đã mua chuộc tên thái giám cai quản đội cung nữ tìm cách cho nàng trốn thoát khỏi hoàng cung. Viên võ quan vừa rước nàng về chưa kịp hưởng hương vị ái ân đã nhận được lệnh phải cầm binh đi dẹp giặc ở miền biên thùy và tử nạn ngay trận giao đấu đầu tiên. Nàng Lục Chân bơ vơ đành tìm về bản quán nhưng bố mẹ nàng quá buồn phiền vì mất đứa con gái yêu thương đã theo nhau qua đời, để lại cho nàng ngôi nhà cỏ ba gian giữa phường dệt lụa ươm tằm. Nàng đành học nghề này để tự nuôi thân. Tuy là gái nhưng là cô con gái duy nhất nên nàng được ông đồ, thủa sinh thời, cưng chiều hết mực. Bà đồ quanh năm cực nhọc nhưng cũng như ông, bà quí cô con gái vô cùng. Nhiều khi ngắm cô con ngây thơ nũng nịu bà thầm tiếc: ²Ước gì nó là con trai..² Ông đồ lại nghĩ khác. Dù trai hay gái, con ông vẫn là con ông. Ông dạy dỗ Lục Chân chẳng khác gì dạy dỗ một đứa con trai, chỉ thiếu có phần binh sách kiếm cung là ông không nghĩ tới thôi. Lên tám, Lục Chân đã làm bài thơ tứ tuyệt đầu tiên. Năm mười lăm tuổi những bài phú của nàng lời văn trau chuốt, lý luận thông tuệ khiến ông đồ mỗi lần có bạn bè đến thăm đều hãnh diện mang ra khoe. Dù với tình thương sâu đậm của bậc cha mẹ nhưng hai người vẫn chưa khám phá hết được giá trị của đứa con yêu duy nhất. Ngoài cái thông minh lý trí, Lục Chân còn một thứ thông minh khác mà ông bà đồ vì quá thật thà chơn chất nên không nhận ra, đó là tính mẫn cảm. Một thi bá thời nay gọi nó là cái nghiêng tai kỳ diệu. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu thì người ta mới biết được ngọn thu phong châm chích ra sao trong trái tim kẻ cô quạnh. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nhận ra những run rẩy của lá cành non, cái rì rào hớn hở của tia nắng sớm. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nghe được hơi thở của loài côn trùng, nỗi bồi hồi trên mỗi ngọn gai ốc nằm dưới làn da xuân thì. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới thấu được điệu buồn trong lời vui, giọt nước mắt dấu đàng sau nụ cười. Cho nên ông đồ hãnh diện vì sự thông minh thuần khiết của đứa con gái mà không ngờ rằng xa hơn nữa, sâu hơn nữa là những cảm nhận tinh diệu chỉ khiến đời con ông hiu hắt u buồn.

Đã gần hết tuần trăng, người thanh niên đa tài nằm thiêm thiếp trên chiếc giường duy nhất của nàng. Để sẵn sàng cho mọi bất trắc, nàng phải kéo chiếc trường kỷ đến kế bên giường, gục xuống đấy trong giấc ngủ chập chờn. Đêm này qua đêm khác, đến lúc quá mỏi mệt nàng thiếp đi. Cũng chính vào lúc ấy, nhạc sĩ tỉnh lại, sau cơn toát mồ hôi đầm đìa. Chàng nghe như thân xác nhẹ nhõm, sảng khoái, nếu không cảm thấy bụng dạ trống rỗng chàng tưởng có thể vùng dậy chạy nhảy hát ca. Muốn ngồi lên nhưng không nhấc đầu nổi, chàng ngạc nhiên nhận ra mình mất hết sức lực dù tinh thần sáng suốt. Nhìn sang bên cạnh, nữ lang xinh đẹp mà dường như chàng đã trông thấy một lần chiêm bao nào đó đang ngã mình mê mệt, mớ tóc mây bết mồ hôi nhưng làn môi hé mở nụ cười vu vơ và xa một chút trên chiếc lò than, một siêu thuốc còn rập rình sôi. Chàng chợt hiểu, say đắm ngắm nàng. Mỹ nhân dường như có linh cảm gây bởi dòng nhân điện, mở bừng mắt vừa vui mừng vừa hốt hoảng:

– Quân tử đã tỉnh! Thiếp lo quá, mặc dù đổ rất nhiều nhân sâm nhưng quân tử vẫn mê mệt ..chỉ mong thấy chàng hồi tỉnh, lấy lại được chân khí…

– Xin nàng đừng quá bận lòng. Bỉ nhân vô tình đã làm phiền nàng quá nhiều

Họ làm quen nhau và nàng khám phá ra chàng chính là người nhạc sĩ tài hoa mà nàng từng hâm mộ dù chưa gặp mặt biết tên. Trong cung cấm, những khúc điệu có khả năng vỗ về tâm hồn nàng đằm thắm nhất, sâu thẳm nhất luôn luôn là những sáng tạo đến từ chàng, nên dù có lệnh cấm của nhà vua, bọn cung nữ vẫn chuyền tay nhau thưởng thức. Từ đó họ sống với nhau như đôi uyên ương, không rời nhau nửa bước. Chàng cảm động thấy nàng kính trọng và hâm mộ tài năng mình, đổi lại với lối chê trách nặng nề của tay phê bình gia lỗi lạc một lần tìm đến. Nghe chàng kể, nàng cười rộ, khinh bỉ: hắn chỉ là tên tay sai của nhà vua, hưởng bổng lộc tràn đầy nên dù phải nói ra những điều trái lòng hắn vẫn không từ. Với khả năng nhận định sắc sảo, hắn không thể nào không nhận ra tài năng xuất chúng của chàng, nhưng vì những điều chàng ca tụng là những điều cấm kỵ nên hắn không có quyền nâng đỡ chàng. Để chứng minh tầm phổ biến của âm nhạc do chàng sáng tạo, nàng đã hát cho chàng nghe mọi khúc ca do chàng soạn ra và đã được phổ biến ngoài quần chúng. Nhờ vậy chàng dần dần lấy lại được tự tin.

Thời trăng mật tưởng như vô cùng tận. Tấm thân thể nõn nà của nàng đã cho phép chàng trầm mình vào đó không hề chán chê. Làn tóc mây như giòng sông đêm đen êm ái chảy qua hồn chàng, ru chàng vào giấc miên du. Chàng thú nhận rằng lần đầu trong đời chàng biết hưởng vị ngọt ngào thân xác, nàng giải thích: mối hoan lạc chỉ có thể tìm thấy khi có sự đồng cảm; không đồng cảm làm sao có hoan lạc được? Có điều lạ là từ khi họ sống bên nhau, chàng không nhận thấy cần đến nhạc đến thơ nữa. Nguồn cảm hứng bị cắt đứt. Vì chỉ sống bằng tình cảm và với bản năng hồn nhiên đón nhận những gì cuộc sống đưa đến cho mình, chàng không không tự hỏi tại sao. Nhiều lần nàng có ý định nhắn bảo người nhà của chàng mang đàn đến, nghĩ rằng biết đâu nhờ tiếng đàn câu hát mà niềm hứng khởi có thể được nhen nhóm trở lại, nhưng chàng gạt đi: “Chính nàng là âm nhạc là thi ca của ta, tại sao ta phải nhờ đến cây đàn, tiếng phách? Ta cần tìm đâu nữa?” Tuy nhiên, cái khả năng “nghiêng tai kỳ diệu” của Lục Chân đã giúp nàng bắt mạch chỗ lung lay của chiếc cầu tình ái. Nàng hồi hộp chờ đợi giây phút mà nàng không còn là hiện thân của câu ca tiếng nhạc trong hồn chàng nữa. Nàng tự biết tình yêu gái trai đối với chàng chưa đủ; chàng còn cần một thứ tình khác, đó là tình yêu nghệ thuật. Cùng là nòi tình, nàng hiểu hơn ai hết thứ nhu cầu của sự sáng tạo ấy. Một khi đã hưởng được cái lạc thú mãnh liệt, gắt gao, căng thẳng, no đầy của cảm giác thỏa mãn trong nghệ thuật, con người có thể đổi bằng cái chết như những con tằm nuốt đầy lá dâu và sǎ̃n sàng chờ đợi giờ phút nhả tơ, chín đỏ xác thân, quằn quại đau đớn trả hết cho đời những gì đã thu nhận. Lạc thú đầy đau đớn ấy là thứ lạc thú to lớn hơn cả lạc thú của yêu đương nhục thể. Họ vẫn yêu nhau đắm đuối; chàng vẫn ân cần dịu nhẹ nâng niu trong khi nàng đã nghe rạn nứt, cái chuyển mình lách tách của chiếc cốc pha lê chỉ chờ một va chạm vô tình là òa ra vỡ vụn. Hàng ngày nàng quay tơ dệt lụa, còn chàng thì mơ mộng; có những buổi trời thanh gió dịu, họ dìu nhau bách bộ dọc con sông lặng lờ, tìm vào sâu trong cánh rừng thưa, giữa những cội tùng già phô vết sẹo của những cành gãy như thầm kể lễ niềm đau không tiếng của loài thực vật có tuổi đời trăm năm. Bỗng từ trong cửa rừng u tối ấy, họ nghe vọng ra tiếng hát của một người con gái, giọng khàn đặc, kể lể về những giọt mưa không dứt bên hiên nhà: khúc nhạc của chính tay chàng viết tự những ngày đầu khi cuộc tình thứ nhất ra đi. Hai người rảo bước tìm theo hướng tiếng ca. Bên gốc tùng, một gã thiếu niên ngồi thổi sáo; cạnh đó, người con gái chân đất đang uốn thân mình theo điệu sáo rồi bỗng nhiên nàng tần ngần dừng lại, thẫn thờ cất tiếng hát hòa theo giọng tiêu. Nàng không múa nữa bởi sự chuyển động của thân mình là dấu hiệu của lạc quan, của hăm hở nồng nàn, của quyến rũ mời gọi trong khi lời hát, ngược lại chỉ gợi nơi lòng ta cái rũ rượi của mất mát, của cây dài bóng xế, của trễ tràng hụt hẫng, tiếc nuối cái bóng dáng vụt đi không cầm giữ được. Nhạc sĩ sững sờ. Chưa bao giờ chàng có một xúc động cao độ đến thế. Chàng nghe như thể chàng nghe một tác phẩm nào đó, của một người nào đó, xa lạ, lần thứ nhất, nhưng với tất cả bồi hồi xao động nói lên từ mỗi nốt nhạc. Và ngay tức khắc, chàng yêu người con gái, dường như để tạ ơn nàng đã cho chàng một cảm xúc cao độ. Và nhất là đã trả lại cho chàng tâm tình của chính chàng, nhưng đẹp hơn trước bội phần. Như thể chính tay chàng vẽ ra bức tranh và nàng có công làm bóng làm đẹp, rồi đóng khung treo lên tường để thiên hạ thưởng ngoạn và trầm trồ.

Trước mặt hai thính giả bất ngờ, người con gái không hát nữa. Cũng không múa nữa. Nàng toan rủ chàng thiếu niên thổii sáo bỏ đi. Lục Chân biết rằng phải giữ ngay lại cánh chim muốn bay bổng dù rằng một khi giữ lại được thì nàng sẽ mất chàng. Cánh chim kia sẽ cho phép chàng nương sức gió vút đi. Nàng thử đặt câu hỏi với người con gái xem nàng có biết kẻ nào là tác giả của khúc ca vừa rồi. Người con gái lắc đầu: “Tiện thiếp chỉ là kẻ hát dạo, nghe người ta hát thì bắt chước hát theo đấy thôi, nào có biết tác giả là ai. Mà nếu có biết cũng chẳng để làm gì. Hạt cát này đâu biết rồi ra sẽ bị cuốn đi bởi con sóng nào…”

Suốt đêm nhạc sĩ trằn trọc bên cạnh Lục Chân mềm mại, vô tư trong giấc ngủ. Chàng nhầm. Nàng còn trằn trọc nhiều hơn chàng nữa. Chỉ cần cái trở mình của một trong hai thì kẻ còn lại đã đáp ứng bằng một giọng ráo hoảnh: “Như thế là chàng đã tìm được phương tiện chuyên chở nhạc chàng rồi. Xin chàng đừng bỏ qua. Hãy cầm giữ lấy như đã cầm giữ những cây đàn quý của chàng”, nàng cất lời. Nhạc sĩ phản đối: “Nhưng ta nõ cầu ai chuyên chở nhạc ta; ta chỉ cầu đôi ba lỗ tai sành điệu hơn là nghìn triệu cái tai trâu! “ Nàng ôn tồn: “Chàng nhầm đấy. Quần chúng có người cao kẻ thấp. Kẻ thấp thì lắm thật nhưng cũng không hiếm bậc cao siêu. Vả lại, kẻ sáng tạo không thể bảo là chỉ viết cho mình; y vẫn ước mong tác phẩm đến tay quần chúng thưởng ngoạn. Những khúc ca của chàng phải được phô diễn qua những giọng ca và những tiếng đàn khác nhau để được tiếp nhận sâu xa rộng rãi trong quần chúng. Thiếp yêu chàng nhưng thiếp còn quan tâm nhiều hơn nữa về tài năng của chàng. Thiếp không muốn tên tuổi chàng bị mai một.” Nhạc sĩ ôm nàng vào lòng tỏ dấu cảm ơn. Và ngay sáng hôm sau chàng từ biệt nàng ra đi. Cùng với nàng Ly Tao, tên chàng đặt cho cô bé hát dạo chân trần.

Kinh thành đang cơn loạn lạc. Thù trong và giặc ngoài. Thời đại nhiễu nhương, chính tà khó biết. Hai người coi thường lửa khói, thản nhiên dắt nhau đi từ nơi này đến nơi khác như hai kẻ giang hồ lãng tử. Họ hát cho triệu triệu nỗi niềm sinh ly tử biệt. Chàng thấy dạt dào trong lòng niềm hứng khởi của sáng tạo, nhưng nguồn cảm hứng chỉ có thể lấy từ chết chóc đau thương, do đó, khơi dậy từ tâm và thui chột căm hờn. Dù vậy, giữa cuộc chém giết những kẻ cầm gươm đao chẳng bao giờ muốn nghe lời rên rỉ nên chẳng bên nào chấp nhận sự có mặt của chàng. Lẫn trong đám đông dân chúng hâm mộ cùng nhỏ với chàng những giọt nước mắt mỗi lần nghe những tấu khúc ai oán, có một tráng sĩ áo đen dáng điệu trầm ngâm. Rồi một hôm chờ mãn cuộc hòa nhạc, tráng sĩ đến bên chàng vái chào, kính cẩn mời chàng vào tửu quán cùng chia chung chén rượu gọi là để tỏ lòng hâm mộ. Khi cuộc rượu hầu tàn, hai người đều đã ngà ngà say, tráng sĩ vỗ vai chàng thân mật:“Chẳng dấu gì đại huynh, tiểu nhân đến từ ải bắc, vượt qua không biết bao gian truân nguy hiểm, chỉ mong rước ngài về gánh vác đại sự cùng chủ tướng tôi”. Nhạc sĩ hoảng hốt đứng lên vái liền mấy cái thối thác: “Quân tử dạy quá lời. Chúng tôi chỉ là hàng thứ dân trong xã hội, may có chút tài mọn cũng chỉ để trước là mua vui cho lũ bách tính, sau là tìm lối sinh nhai đắp đổi qua ngày, làm sao dám nghĩ đến chuyện chung vai gánh vác việc nước, việc đời.” Kẻ đối diện điềm nhiên tiếp lời: “Chủ tướng là kẻ chính nhân, biết trọng hiền đãi sĩ, lại có sức hiểu biết siêu việt, nên chỉ một cái liếc mắt đã biết ai là kẻ tài ba, đã giao cho tôi trọng trách mời ngài về, ắt chủ tướng không thể nhầm lẫn được. Chỉ mong ngài nhậm lời là thằng tôi mãn nguyện vì đã hoàn thành được trọng trách. Nếu không tôi e khó lòng dám nhìn lại chủ tướng.” Thấy y quá khẩn khoản, nhạc sĩ đành phải nhận lời. Và một ngày nọ trên đường về ải bắc, hai con ngựa đen trắng thả vó song song, trên mình ngựa hai kỵ sĩ cúi đầu ra roi cho chúng phi về hướng trước mặt, bỏ lại đàng sau dấu bụi mịt mờ.

*

Sáng hôm ấy dù khí trời đã đổi, sương mù che kín cả vùng núi, hiền giả vẫn dậy sớm tự pha lấy trà, chuyên ra chiếc bình độc ẩm tráng men mầu nâu sậm rồi rót vào tách nhỏ. Mùi trà thơm dịu bốc lên khiến ông cảm thấy ấm áp lạ. Hai tay nâng tách, dù chiếc tách nhỏ xíu lọt thỏm trong lòng bàn tay, hiền giả hớp từng ngụm nhỏ, mắt nheo nheo nhìn qua tấm mành thưa kết bằng thân những cộng lau gầy. Đợt heo may vi vu theo về từ phương bắc báo hiệu tiết bạch lộ đang sắp sửa ghé qua. Giòng suối cạnh nhà lòng đã thẫm dần màu đồng kéo theo trong nó cơ man là xác lá khô. Một thế hệ lá rừng rẫy chết buông xuôi theo cơn trở mình của thiên nhiên. Phải chịu khó lắng nghe cái vô thanh của vạn vật để nhận biết thế nào là lẽ biến dịch.

Đàng sau nhà, có tiếng lạch cạch của then cửa vừa được đẩy ra, tên tiểu đồng thò cái đầu có ba chỏm trái đào lên tiếng chào ông chủ. Chỉ cần cái nhìn của ông nó đã hiểu ông muốn nói gì nên vội lên tiếng đáp: “Bẩm, hành lý đã gọn rồi chỉ chờ thầy cạn xong tuần trà sớm…” Cứ mỗi lần thời gian đổi mầu, hiền giả lại động lòng non cao núi thẳm nên ông có lệ là phải dứt áo ra đi, bất kể chốn nào, miễn là khước từ chốn cũ, viễn du vào cõi hư ảo mông lung nơi chân trời xanh chưa kịp hòa nhập với mầu thẫm của đất bằng. Vả lại như niềm tin dân gian đã từ xưa truyền lại, đi một ngày đàng học được cả sàn khôn; sách vở vốn dĩ là kho tàng hiểu biết vô tận, nhưng đôi khi sách vở cũng không nói hết được điều khôn điều dại, những ngang trái trớ trêu, những lọc lừa phản trắc. Kẻ trí giả vì sống bên trên cuộc sống, đã không nhận ra được những rác rưởi tanh hôi; hiền giả, trái lại, muốn hiểu hết mọi ngọn ngành không phải để ganh đua giành giật mà là để hoàn toàn xa lánh. Một khi người ta nhìn rõ được đâu là chốn bùn lầy thì mới đành lòng thoát khỏi bùn lầy.

Xuống đến chân núi, hai người theo con đường mòn xuôi nam. Thấy thằng bé có dáng mỏi mệt, hiền giả xuống ngựa nhường yên cho nó. Thày trò đi thêm được mươi dặm nữa thì bắt đầu thấy có dấu hiệu đã gần kề nơi đô hội, kẻ ngược người xuôi đông đúc. Nhận ra trời đã ngã chiều, ngại rằng nếu gắng đi thêm sẽ không còn gặp được quán trọ, hiền giả đưa mắt tìm kiếm một nơi khả dĩ có bữa cơm chiều và chỗ nghỉ qua đêm. Tên tiểu đồng chưa hề biết phố xá, lần đầu lạc vào nơi đô hội, nó vừa kinh ngạc lại vừa phấn khích. Xảy thấy đám đông bu quanh bọn sơn đông mãi võ, tiếng kèn tiếng thanh la gióng lên inh ỏi, nó xin ông chủ được phép chen vào xem. Chủ nhân đành chìu ý tên đồ đệ nhưng sợ thằng bé có thể bị lạc lối nên phải tấp vào một phạn điếm gần đấy nhâm nhi ly rượu nhỏ trong lúc đợi chờ. Chỉ hơn một tuần rượu là thằng nhỏ trở về, vẫn không mất dáng điệu phấn khích. Nó kể cho ông nghe rằng những trò mãi võ chẳng làm nó để tâm nhưng có một mụ xẩm già tuy giọng đã khản nhưng những câu ca của mụ đã làm nó xúc động. Hiền giả lắng nghe, mắt nheo nheo thích thú nhìn thằng bé, có lẽ vì lần đầu thấy nó cố gắng diễn đạt niềm hứng khởi lĩnh hội được qua sự đánh thức cảm quan từ một tác nhân ngoại lai, nhưng có lẽ cũng nhờ hơi rượu, một loại mỹ tửu cất lâu năm khiến ông mềm môi và cõi lòng ông tở mở. Ông cười cười: “Thế ngươi cho rằng giọng hát của mụ xẩm hay, hoặc giả lời ca đã gợi nơi ngươi một điều gì khiến ngươi lấy làm đẹp ý? Hãy biết rằng khúc nhạc hay có thể do âm điệu du dương mà cũng có thể do lời ca gởi gắm được nhiều ý tình; nói ta nghe thử nào “. Tên tiểu đồng còn đực mặt trước câu hỏi hắc búa của chủ nhân thì đã có giọng nhừa nhựa của một đại hán bàn bên rước dùm: “Cha chả là rắc rối. Câu hỏi đặt ra cho dù với kẻ hèn đầu hai thứ tóc này mà cũng còn thấy chua cay huống hồ với thằng bé. Đại nhân thật quá khắt khe đấy.”Vừa nói y vừa tiến đến bên hiền giả cung kính vái chào, tự giới thiệu và quay sang bàn bên ra dấu cho bọn bốn người cùng ngồi với y kéo sang xin được mời hiền giả cùng cụng ly với họ. Cực chẳng đã, hiền giả phải nhận lời. Người lạ giải thích, mụ xẩm già, cựu cung nữ, từ lâu vẫn quanh quẩn trong vùng lấy việc ca hát làm lẽ sống (chứ không làm kế sinh nhai) vì nghe đâu ngày trước mụ thất tình một nhạc sĩ đã bỏ mụ ra đi nhưng vì lòng chung thủy và nhất là vì hâm mộ tài năng của chàng nhạc sĩ đó mà mụ nhất quyết mang chút hơi tàn phổ biến những tác phẩm mà chàng đã sáng tạo. Câu chuyện vì vậy chỉ xoay quanh hành động của mụ xẩm già cùng với cuộc đời người nhạc sĩ đã chết. Nhìn đại hán, người ta biết ngay đó là một cựu chiến binh, vóc dáng y hãy còn vặm vỡ mặc dù tuổi đời đã xế bóng. Y nâng ly tợp gọn sau tiếng khà rồi tự tay rót đầy ly nữa, bần thần: “Dạo ấy, tuổi còn trẻ máu còn hăng, tôi đang trấn giữ địa đầu. Phía bên kia đối phương rình rập. Nơi tiền đồn xa xôi nếu không có những phút đối mặt với đao kiếm thì phải đối mặt cùng lẻ loi, cô quạnh. Những khúc ca của chàng nhạc sĩ nọ chỉ giết dần mòn hào khí chúng tôi. Nghĩ cũng phải khi triều đình ra lệnh cấm chỉ lưu hành chúng, nhưng nào có cấm được đâu.” -”Ấy đấy, ấy đấy!” lão già gù từ nãy đến giờ im tiếng, bỗng góp ý: “Hạng Võ ngày xưa bách chiến bách thắng, nhưng khi bị vây ở Cai Hạ, chỉ vì tiếng sáo bi thảm của Trương Lương đã khiến đại quân mất hết tinh thần chiến đấu mà phải tự vận. Không phải chỉ ngọn dáo ngọn mác mới giết được con người”. Đại hán không để ý đến lão già gù, miên man với ý nghĩ riêng tư: “Nhưng sau đó anh ta về đầu thú bên kia. Bọn họ bèn nhốt con chim vào lồng son khiến nó phải chịu đến hai lần khuất phục: khuất phục vì chiếc lồng son, lại khuất phục vì thức ăn miếng nước hàng ngày. Đổi một nửa tự do, anh ta ngờ đâu còn mất nhiều hơn thế nữa”. Người ngồi cuối bàn, dáng dấp như thương nhân giàu có, lắc đầu quầy quậy: “Quý vị có thể sẽ cho rằng thằng tôi là đứa hồ đồ, nhưng tôi thiết nghĩ người nghệ sĩ trước nhất phải sống thành thật với chính mình. Xét kỹ những điều nhạc sĩ nói lên thật ra chỉ để tỏ bày nỗi đau thương của những tử biệt sinh ly. Chàng không chống chiến tranh; chàng chỉ chống sự bạo tàn. Còn việc chàng chọn lựa bên này bên kia là quyền của chàng. Bảo rằng sai hay đúng chỉ tùy thuộc vào góc nhìn; vả chăng câu chuyện đã qua lâu rồi hà tất.” Đại hán cười khẩy, chua chát: “Phải rồi, cái gì đã qua thì hãy cho nó qua, một cánh tay gãy, một bàn chân què, những cái chết xuân xanh tức tưởi, và một nửa đất nước tang thương. Hãy cho qua, cho qua hết. Nào, mời đại nhân nâng chén, ta nuốt trôi nỗi phẫn hận xưa!” Mọi người bỗng nhao nhao đồng ý, dường như ai cũng muốn khỏa lấp cảm giác chua cay vì mẩu đối thoại vừa rồi. Họ nâng ly cùng uống cạn khi người trẻ tuổi nhất trong bọn với dáng mơ mộng bảo rằng loại nhạc chống chiến tranh hay oán chiến tranh ấy chỉ chiếm một giai đoạn nhỏ trong đời sống người nhạc; phần còn lại là nhạc tình: tình người, tình đời, tình buồn thân phận. Y ca tụng không tiếc lời tài ba của nhạc sĩ. Bọn trai trẻ như y không hề biết đến nhạc sĩ lúc sinh thời nhưng vẫn tìm thấy niềm cảm thông gần gũi trong những điều chàng nói lên, con người của muôn thuở và của muôn nơi…

Không phải cuộc rượu nào cũng vui. Có những chầu rượu buồn, những chầu rượu băn khoăn, những chầu rượu hụt hẩng nửa chừng. Người ta dần dần nói ít đi và suy tư nhiều thêm. Từ đầu cuộc đến giờ, hiền giả không hề lên tiếng, tuy vậy ông lắng nghe không bỏ sót lời nào. Rượu đã ngấm vào cơ thể, con người quên cả lễ nghi chỉ còn nghĩ đến nhu cầu, họ lần lượt ra đi, kẻ theo tiếng gọi của dục tình, người mỏi mệt vì tuổi tác gục ngã ngay trước bàn, chỉ còn ngồi lại một đại hán tuy đã sức mỏn hơi tàn nhưng lòng còn đầy phẫn hận, và hiền giả cùng với cậu đồ đệ, mắt còn nguyên nét thơ ngây, lòng vẫn ăm ắp nhân nghĩa. Đại hán lại đứng lên khoanh tay hướng về phía hiền giả:

– Cuộc rượu vừa qua sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu không được nghe lời bàn của đại nhân. Xin cho nghe những lời dạy bảo quý báu ấy.

– Lão đây tuy không tu hành nhưng đã tự coi là hoàn toàn xa lánh việc đời – hiền giả đáp lời đại hán – những vụ việc vừa rồi chỉ muốn nghe chứ không dám lạm bàn. Vả, suy cho cùng, ai cũng có lý và ai cũng muốn kéo lẽ phải về phần mình. Còn nói về người nghệ sĩ thì sinh ra y đã có cái căn cơ của y. Cái căn cơ ấy hướng về chí thiện, tuy nhiên bẩm chất y ham hố như đứa tiện nhân, hiểu theo nghĩa vật dục; may thay nhờ cái tham, sân, si “hơn đời” ấy giúp y đủ khả năng cảm nhận sâu sắc đời sống. Có khi y lạc bước, nhưng làm sao ta trách được y? Hãy trả y về với vị trí của y. Chúng ta, trong xã hội Á đông, đôi khi sắp nhầm kẻ trí giả vào lớp nhân giả, đòi nghệ sĩ đóng vai nhà luân lý, muốn ông chính trị gia phải có phong thái của một hiệp sĩ đạo. Làm gì có sự tuyệt hảo ấy? Mỗi người mỗi việc, mỗi cá nhân một phần hành, quí hồ hắn làm tròn phần hành của hắn là đã đủ lắm rồi… Giọng ông nhỏ lại tưởng như chỉ nói với chính mình: “Chỉ hiềm một điều: những bất công của lịch sử không bao giờ được sửa sai. Kẻ chiến bại không có khả năng áp đặt còn kẻ thắng cuộc thì lấp liếm. Biết sao?”

Ông đứng lên cáo từ, giục thằng bé tìm về nơi trọ nghỉ ngơi để sáng mai đủ sức quay về. Tên tiểu đồng ngạc nhiên: “Bẩm, ta không tiếp tục xuôi nam?” Hiền giả mỉm cười nhìn nó: “Ngươi còn muốn dong ruỗi ư? Một ngày hôm nay đã có bao nhiêu điều phải học và phải suy ngẫm, ta không chắc ngươi cần thu nhận thêm điều gì nữa. Hãy chờ đến dịp khác vậy…”


* Thơ Vũ Hoàng Chương

7 thoughts on “Tam thập dư niên hậu”

  1. “Phải rồi, cái gì đã qua thì hãy cho nó qua, một cánh tay gãy, một bàn chân què, những cái chết xuân xanh tức tưởi, và một nửa đất nước tang thương. Hãy cho qua, cho qua hết.”

    Chiến bại, chiến thắng, hiền giả, trí giả, quân tử, tiện nhân, nhạc sĩ, người hát xẩm… cũng chỉ là những cảnh, những vai trong “Tấn trò đời”, hạ màn… là hết! Nặng lòng mà chi!!!

    Like

  2. Ngày Xuân, thú thật, thử rê chuột lướt xem độ dài của “truyện” tự nhiên thấy…ngán tận cổ! Hihi…
    Nhưng, thầm nhủ, nay đã mồng 4, mấy ngày qua “tung tăng bay nhảy” cũng “đã đời” rồi; hơn nữa, với cái tên đóng dấu đỏ của ông già kính yêu đầy thông tuệ lẫn dí dỏm Đặng Đình Túy, cũng rất đáng dành thời gian mà đọc, ngõ hầu lượm lặt “học mót” chút chút cùng…thư giãn, vậy! hihi…
    Quả, y như rằng!
    Bác Túy kính yêu ơi, sao mà trí tưởng tượng của bác thật bay bổng, phong phú cùng lịch lãm…đến vậy!
    Đọc, ban đầu có cảm giác “ổng viết” lan man (hihi…), nhưng càng đọc thì nội dung cùng câu chữ càng cuốn hút đến tận cùng…dấu chấm hết!

    Bảo Vân cháu thích nhất các đoạn bác “phân tích” sau:

    1/ “…đó là tính mẫn cảm. Một thi bá thời nay gọi nó là cái nghiêng tai kỳ diệu. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu thì người ta mới biết được ngọn thu phong châm chích ra sao trong trái tim kẻ cô quạnh. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nhận ra những run rẩy của lá cành non, cái rì rào hớn hở của tia nắng sớm. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới nghe được hơi thở của loài côn trùng, nỗi bồi hồi trên mỗi ngọn gai ốc nằm dưới làn da xuân thì. Phải có được khả năng nghiêng tai kỳ diệu người ta mới thấu được điệu buồn trong lời vui, giọt nước mắt dấu đàng sau nụ cười…”

    2/ “…Nhưng sau đó anh ta về đầu thú bên kia. Bọn họ bèn nhốt con chim vào lồng son khiến nó phải chịu đến hai lần khuất phục: khuất phục vì chiếc lồng son, lại khuất phục vì thức ăn miếng nước hàng ngày. Đổi một nửa tự do, anh ta ngờ đâu còn mất nhiều hơn thế nữa…”

    3/ “Chỉ hiềm một điều: những bất công của lịch sử không bao giờ được sửa sai. Kẻ chiến bại không có khả năng áp đặt còn kẻ thắng cuộc thì lấp liếm. Biết sao?”

    Bác Túy ơi, đọc, cháu cảm nhận thích như thế; bác còm gợi ý thêm thêm cho cháu đi…
    Và, nhân trong “truyện”, bác có đề cập đến hát xẩm; Bảo Vân cháu kính mời bác nghe…thư giãn, nghen…

    – Xẩm “Anh Khóa”
    (Tác giả: Á Nam Trần Tuấn Khải)

    http://ttnv.vnweblogs.com/post/6664/166820

    Like

  3. Bác Túy ơi,
    Có chỗ này, Bảo Vân cháu hơi hơi…lấn cấn, rất muốn bác có ý kiến cho cháu…”mất” cái lấn cấn, được không ạ?
    Đó là:
    – “Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu” (Chu Mạnh Trinh)

    Theo Bảo Vân cháu, “NGUYÊN CÂU CHỮ” này, đúng ra, “KHÔNG PHẢI LÀ NGUYÊN VĂN” của cụ Chu Mạnh Trinh!
    Mà, đó là CÂU DỊCH của…Đoàn Tư Thuật.
    Sở dĩ, Bảo Vân cháu “bậm môi làm gan” nói thế, vì lẽ, ĐÚNG CÂU CHỮ NGUYÊN VĂN của cụ Chu Mạnh Trinh, phải là:

    – “Bộc bản đa tình, cảm thâm đồng điệu.”

    Vì, có đến 3 dịch giả dịch…nôm, lận mừ:
    1/ “Tớ vốn nhiều tình, cảm ai cùng điệu.” ( Bản dịch Tchya Đái Đức Tuấn & Đàm Quang Thiện )
    2/ “Ta vốn đa tình, luống thương đồng điệu.” (Bản dịch Lãng Nhân )
    3/ “Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu.” (Bản dịch Đoàn Tư Thuật)

    Ý Bác thế nào ạ?

    Like

  4. Thưa vâng, cô BV ạ, chỉ là câu dịch nhưng là câu hay nhất mặc dù cũng chỉ từ ý tưởng của Chu Mạnh Trinh thôi. Vì khoái chữ nòi tình mà tôi chọn (vậy mà cũng bị la!)

    Like

    1. – “Vậy mà cũng bị la!”

      Hihi…Bác Túy kính yêu ơi,
      Đầu Xuân, độc giả, đứa cháu gái “xí xọn” thử bậm môi làm gan “ngắt” nhè nhẹ, để Bác không vì say mê hương vị quyến rũ của những ngày Tết ở bển, mà quên lửng độc giả ở nhà Bà Tám…thôi đó mà! Hihi…
      Hơn nữa, thú thật, đọc, cháu thầm thích và thầm ước muốn bài viết nào của Bác cũng phải là…toàn bích, cơ! Hihi…
      Bởi, từ ngày vào nhà Bà Tám chơi, được đọc những bài viết của bác, cá nhân cháu học hỏi được nhiều điều, và, trong cháu, tự nhiên, nói như nhà văn Võ Phiến:

      – “Hễ đọc thơ đọc văn mà đã bắt được nét đẹp của một phong cách, đã yêu nó, thì cứ thoáng thấy nó xuất hiện ở đâu là thích đấy, bất luận người nghệ sĩ đang nói gì, đang đề cập đến vấn đề gì, đang tả cái gì, đang kể lể con cà con kê về cái gì….
      Phong cách, nó phản ảnh một quan niệm sống, một thái độ ở đời, nó phản ảnh một khung cảnh xã hội, một thời đại, nó thừa kế các đặc điểm của một dòng dõi, một đường hướng giáo dục, một bầu không khí văn hóa v.v… Nó là cái dung mạo của một tâm hồn…”
      (Võ Phiến: Văn Phong – Nhân Cách)

      Đấy, cháu gái xí xọn thử bậm môi làm gan “ngắt” bác, là vì cái nét…“văn phong và nhân cách” mà cá nhân cháu…” nghiêng tai kỳ diệu” (hihi…) cảm nhận được, “Nó” lan tỏa bàng bạc trong từng chữ từng câu từng dòng ở những bài viết đầy lịch duyệt của Bác, đó!
      Hihi…

      Like

  5. – “Ngắt vừa thôi kẻo bầm mình bác ấy giận xách gậy rượt oánh chết đó.”
    Bà Tám ơi,
    Hihi… Từ giờ trở đi, hể Bác ấy “xuất hiện” ở nhà Bà Tám là cháu cứ…”Ngắt”! hihi…
    Bảo Vân cháu có…”dzõ”, đó nghen Bà Tám! Làm sao mà Bác Túy nỡ lòng nào “giận xách gậy rượt oánh chết” đứa cháu gái xí xọn này…ược! hihi…
    Bà Tám coi Bảo Vân cháu xuất chiêu…”dzõ nịnh” nè!

    – “Tôi mê Võ Phiến, mê lối viết của ông, lối suy nghĩ sâu xa nhưng được trình bày giản dị, sống động, gần gũi. “Mê” vì nó gần với cảm quan của mình. Vì vậy khi “có lệnh” viết về ông thì tôi hăm hở lắm, tưởng sẽ nói được nhiều điều, nào ngờ ngẫm nghĩ một hồi rồi mới thấy là mình cạn cợt chẳng nắm bắt được gì nơi ông nhiều. Bởi tài năng của Võ Phiến phong phú quá, ông viết truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, lý luận, phê bình, rồi làm cả thơ nữa. Thơ của ông thì không bằng các thể loại khác nhưng thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những cú thần tình (mấy câu thơ của ông mà tôi có chép ở đâu đó giờ tìm chẳng ra viết về người con gái ngữa cổ cười hất mái tóc ra sau với cảm giác rung động thất thần của người nhìn ; ai biết nhắc dùm) và nhất là bàng bạc tinh thần Võ Phiến. Tinh thần đó là tinh thần của một người Á đông thuần túy dù có tây học, chỉ cần nhìn một chiếc lá khô mà suy ra cái lý hiện hữu của cả vũ trụ…”
    (Đôi điều về Võ Phiến – Đặng Đình Túy)

    Bác Túy ơi, cháu gái xí xọn này, biết bài thơ…đó nè!
    – “Có ai ngửa cổ cười sung sướng
    Cổ trắng ngần, ôi… muốn chết luôn
    Có ai hất tóc qua vai ấy
    Mà đây xao xuyến cả tâm hồn
    Bâng quơ một nụ cười ai nở
    Làm ai ngồi đứng mãi bôn chôn”
    Hihi…

    – TẠ TỪ THÂN XÁC
    ( Võ Phiến )

    Ta đến từ đâu, đâu biết được
    Đến đây được biết có Mình thôi
    Gặp nhau từ thuở ban sơ ấy
    Quấn quít nhau không một phút rời.
    Tiền thân dù có dù không có
    Ta có Mình khi ta có đời
    Có Mình, ta có luôn trời đất
    Đã tuyệt vời chưa Thân Xác ơi
    Một hớp trà thơm, dăm cánh bướm
    Là ơn đôi mắt với vành môi.
    Ngẫm ra nước biếc cùng mây trắng
    Cùng núi cùng sông trải khắp nơi
    Nghìn triệu âm thanh muôn vạn sắc
    Xác thân vũ trụ đấy mà thôi
    Xác thân kề cận cùng thân xác
    Vũ trụ cùng ta đôi xứng đôi
    Vầy nhau một trận cho tơi tả
    Cho lăn lóc đá mẩn mê đời
    Trăm năm một kiếp lâu chi mấy
    Mà đắn mà đo tiến lại lui
    Là sắc là không, hình tướng ấy
    Dẫu cho hư ảnh cũng là vui.
    Thân Xác tha hồ bao nhiếc móc
    Mỗi phân da thịt một linh hồn
    Có ai ngửa cổ cười sung sướng
    Cổ trắng ngần, ôi… muốn chết luôn
    Có ai hất tóc qua vai ấy
    Mà đây xao xuyến cả tâm hồn
    Bâng quơ một nụ cười ai nở
    Làm ai ngồi đứng mãi bôn chôn
    Ơi gót chân son từng bước đỏ
    Ơi búp tay quỳnh ngón thon thon
    Nõn nà một khối: tòa hoan lạc
    Nuốt lấy nguồn vui, hôn lại hôn.
    Ấm hơi Thân Xác từng quên cả
    Hư vô lạnh lẽo buốt càn khôn.
    Sáu mươi năm lẻ trên trần giới
    Ta luôn có Mình, Mình có ta
    Rồi đây cách biệt – muôn đời biệt –
    Bỏ tai bỏ mắt ta đi xa
    Ta đi xa tít ngoài nhân thế
    Ta gởi Mình nơi lòng đất già
    Hình hài không có, đời không có
    Ta có gì chăng để gọi ta?
    Rồi ta sẽ nhớ về mây nước

    Nhớ trời đầy bướm đất đầy hoa
    Nhớ con suối lượn con chim hót
    Nhớ giọt sương mai ánh nắng tà.
    – Lang thang đâu đó ngoài vô tận
    Một mảnh linh hồn nhớ thịt da.
    (10-1986)

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s