bất lực của ngôn ngữ

Tôi luôn cảm thấy bất lực với ngôn ngữ. Ngày còn trẻ tôi thuộc loại liến láu, chanh chua, tranh nói tranh cãi. Bây giờ muốn nói sao tìm chữ không ra. Từ ngày qua Mỹ tôi càng ngày càng ít nói hơn, có lẽ vì tôi mang mặc cảm ngôn ngữ, nói tiếng Mỹ dở, ngữ vựng ít, nói có “accent.”

Lúc sau này tôi ít gặp bà Carol dắt chó đi ngang trước nhà. Bà không ở cùng con đường với tôi. Nhà bà ở khu nhà bên đường Brandywine, sang hơn, phía sau nhà của bà giáp vào ngõ cụt của con đường ngang nhà tôi. Hằng ngày bà thường dắt chó đi ngõ sau cho chó bài tiết nhân tiện bà hút thuốc. Con chó nhỏ đâu chừng hai tấc mà béo ơi là béo. Trời lạnh bà cho chó mặc áo ấm. Con chó nhỏ mỗi lần gặp chúng tôi là liếng thoắng chạy vòng vòng sủa inh ỏi trông rất đáng yêu.

Bà Carol người gầy dáng cao, tóc cắt thật ngắn, ngắn đến độ nếu chỉ nhìn cái đầu tóc người ta sẽ nghĩ đó là một người đàn ông. Bà thuộc loại đẹp, không đập vào mắt người ta một cách hỗn hào, nhưng nét mặt bà có vẻ thanh tú, ưa nhìn. Chỉ có điều là bà dấu vẻ đẹp dưới lớp phấn màu da người thật dày nên trông giống như mặt nạ. Tôi đoán có lẽ bà có một cái bớt đâu đó trên mặt bà muốn che đi. Dù buổi sáng mới thức tôi thấy mắt bà vẫn kẻ viền đen trông sắc sảo càng làm khuôn mặt bà tăng vẻ giống mặt nạ.

Trước khi có dịp chào hỏi bà, tôi vẫn thường đứng ở cửa sổ nhìn bà đi ngang. Con đường trước nhà tôi khá dốc. Người đi không quen chỉ cần đi cái dốc này, hay đi con đường lái xe vào nhà để xe của tôi là thở dốc. Có một bà quen với bà chị chồng tôi đi lên con dốc này là ngồi phệt ngay trước driveway nhà tôi thở dốc, tôi sợ bà đứt hơi. Người đi dốc cao không quen hay khòm lưng, dường như khòm người như thế đỡ bị cản bởi sức ma sát trong không gian sẽ đi nhanh hơn, dễ dàng hơn. Bà Carol đi cũng khòm lưng. Có lẽ vì bà cao quá và mảnh khảnh quá nên lưng khòm tự nhiên. Bà đã ở chỗ này trước khi chúng tôi dọn về có nghĩa là bà phải quen với độ dốc nên không thể vì độ dốc mà khòm lưng.

Trông dáng bà tôi có cảm tưởng bà oằn xuống vì sức nặng của cuộc đời, như Atlas gánh cả quả địa cầu trên vai, hay như Sisyphus mang tảng đá lên núi. Không phải chỉ vì cao và gầy, bà như gánh một nỗi buồn. Rồi có một hôm sau khi ăn tối tôi với phu quân đi bộ. Đứng ngay driveway nhà tôi là Steve, ông hàng xóm. Ông bảo cho biết hôm ấy là ngày kỷ niệm con trai của bà Carol qua đời.

Con trai của bà Carol vào đại học năm trước đó. Có một nhóm sinh viên ở trường khác đến chơi, vì cãi vả với một nhóm học sinh của trường này đã nổi lửa đốt trường trong lúc các sinh viên đang ngủ. Con của bà Carol bị chết trong trận hỏa hoạn ấy. Trong lúc ông Steve kể vắn tắt về chuyện con của bà láng giềng thì bà cũng dắt chó đi ngang, điếu thuốc trên tay.

Tôi muốn nói đôi lời chia buồn nhưng không biết nói gì. Một phần vì không quen biết hay thân thiết với bà, một phần vì sự giới hạn của ngôn ngữ. Tôi không biết tôi cần phải bắt đầu từ đâu để nhắc đến nỗi đau chưa nguôi ngoai còn đè nặng trên vai bà. Người ta bảo chung vui và chia buồn. Có thật sự khi mình nói những lời phân ưu thì nỗi buồn của người mang tang khốc được chia ra vơi đi hay mình lại khơi đống tro tàn mà ngọn lửa vẫn âm thầm cháy đỏ?

Cố gắng lắm, sau khi ông Steve nói mấy lời giới thiệu mào đầu, tôi chỉ nói được “I am very sorry for your loss!” Tôi không quen bà đủ để có thể ôm bà và tôi đứng đó nghẹn ngào. Tôi tưởng tượng cái đau đớn của người mất con, nhất là mất con vì mình đã gửi con đi học ở một trường đại học danh tiếng giàu có trong tiểu bang với ý nghĩ trường đại học là nơi an toàn nhất cho con mình. Tôi biết mình không thể nói “Tôi hiểu nỗi đau đớn của bà” bởi vì đó là một điều tôi tin là người ta có thể cố gắng tưởng tượng tự đặt mình vào hoàn cảnh ấy nhưng khó mà hoàn toàn hiểu được hay cảm được nỗi đau.

Đây là một trong những lần tôi thấy sự bất lực về ngôn ngữ của tôi.