Lịch Sử Lập Lại – Bài học về Hiroshima Tác giả: Kenzaburo Oe

Thấy bác Trụ đăng bài này. Tôi định dịch xong rồi sẽ xin bác Trụ link qua trang của bác để tìm độc giả vì trang của bác đắt khách quá. Cửa tiệm tôi lúc này bán buôn ế ẩm không ai ghé thăm dùm. Nhưng tôi dịch chậm quá vì bận ham chơi la cà nên khi dịch xong thì bác đã xong từ đời tám đế rồi. Xin bác tha lỗi cho kẻ hậu bối không dám so bì dịch giỏi dịch dở. Nói trước kẻo bác hiểu lầm. Tôi có gửi lên một trang mạng nhưng vị quản lý trang mạng không mặn lắm, vị bảo là tác giả chê việc dùng năng lượng nguyên tử nhưng không có đề nghị cách nào tốt hơn và hiện nay năng lượng nguyên tử là cách sạch nhất và ít tốn kém nhất. Vị nói rất có lý nhưng Oe đề cập đến năng lượng nguyên tử có thể giết hại nhiều người, ngay cả một nước tân tiến như Nhật vẫn không thể quản lý một cách hoàn toàn an toàn, cũng rất có lý. Âu cũng là một đề tài để chúng ta suy nghĩ. Link ở trên the New Yorker. 

Kenzaburo Oe là người Nhật sinh ngày 31 tháng Giêng năm 1935. Ông được trao giải văn chương Nobel năm 1994.

Tình cờ, một ngày trước khi xảy ra cơn động đất, tôi có viết một bài, vài ngày sau đó bài này được đăng trên tờ báo Asahi Shimbun, phát hành buổi sáng. Bài báo này viết về một ngư phủ, thuộc thế hệ của tôi, bị nhiễm phóng xạ vào năm 1954, khi người ta thử bom Hydrogen ở đảo Bikini.  Tôi nghe đến tên của ông ấy lần đầu tiên khi tôi mười chín tuổi. Về sau, ông ấy dâng hiến cả cuộc đời để tố giác cái huyền thoại của việc ngăn chận đối phương bằng cách dùng bom nguyên tử và sự kiêu ngạo của những người cổ vũ nó. Có phải đây là một điềm xấu được báo trước bằng cách khiến tôi nhớ lại câu chuyện người ngư phủ trong đêm trước ngày xảy ra đại họa? Ông ấy cũng chống cả việc thành lập nhà máy phát điện dùng hạt nguyên tử và những hiểm họa mà nó dẫn đến.  Từ lâu tôi đã muốn quan sát lịch sử Nhật Bản hiện đại qua lăng kính của ba nhóm người: những người đã chết vì trận bom ở Hiroshima và Nagasaki, những người bị nhiễm phóng xạ trong kỳ thử bom Hydrogen ở đảo Bikini, và nạn nhân của tai nạn xảy ra ở các nhà máy nguyên tử. Nếu bạn chú ý đến lịch sử Nhật Bản qua các câu truyện này, cái thảm kịch đã xảy ra thật hiển nhiên. Ngày nay, chúng ta có thể xác nhận là những nguy hiểm của các nhà máy nguyên tử đã trở thành hiện thực. Tuy vậy, khi cái tai họa đang xảy ra này kết thúc – với tất cả lòng kính trọng tôi dành cho sự nỗ lực của loài người trong việc cố gắng chận đứng nó – mức độ quan trọng của nó không mù mờ chút nào cả: Lịch sử Nhật Bản đang bước vào một thời kỳ mới, và một lần nữa chúng ta cần phải nhìn sự việc bằng đôi mắt của nạn nhân bị hủy hoại bởi sức mạnh nguyên tử, của những người nam hay nữ đã chứng tỏ lòng can đảm của họ qua nỗi thống khổ. Bài học chúng ta rút ra từ tai họa vừa qua sẽ tùy thuộc vào liệu những người còn sống sau đại nạn này có quyết tâm không lập lại những sai lầm của họ hay không.

Tai họa này đã kết hợp, một cách rất đáng lo ngại, hai hiện tượng: cái yếu ớt bất lực của Nhật Bản trước những cơn động đất và cái hiểm họa có thể xảy ra vì năng lượng nguyên tử. Hiện tượng thứ nhất là một sự thật mà quốc gia này đã phải đương đầu ngay từ buổi sơ sinh. Hiện tượng thứ hai, có thể trở thành tai họa lớn hơn cả động đất lẫn sóng thần, là sản phẩm của loài người. Người Nhật đã học được bài học nào từ thảm kịch Hiroshima ? Một trong những nhà tư tưởng danh tiếng của Nhật Bản hiện đại, Shuichi Kato, qua đời năm 2008, khi thuyết trình về bom nguyên tử và các nhà máy nguyên tử, đã trích dẫn một câu trong “The Pillow Book” (Quyển Sách Gối Đầu) đã được viết mấy ngàn năm trước bởi một nhà văn nữ, Sei Shonagon, trong đó tác giả đã khơi dậy “một điều tưởng chừng như rất xa,
nhưng thật ra, lại rất gần.” Tai họa gây ra bởi nguyên tử dường như chỉ là một giả thuyết xa vời, không thể chứng minh; những triển vọng của nó, tuy thế, luôn luôn ở bên cạnh chúng ta. Người Nhật không nên đo lường năng lượng nguyên tử bằng năng suất kỹ nghệ; họ cũng không nên rút từ thảm kịch Hiroshima một “công thức” để giúp cho sự tăng trưởng. Giống như động đất, sóng thần, hay các tai nạn khác gây ra bởi thiên nhiên, kinh nghiệm về Hiroshima nên được ghi khắc trong ký ức của nhân loại: nó đáng được lo ngại như là một đại họa trầm trọng hơn cả thiên tai, chắc chắn bởi vì nó là do con người gây ra. Lập lại sự sai lầm này bằng cách trưng bày, qua cách xây dựng của các lò nguyên tử, sự xem thường mạng sống của con người là một phản bội nghiêm trọng nhất trong ký ức của nạn nhân của Hiroshima.

Tôi mới mười tuổi khi Nhật Bản bị đánh bại. Năm sau, bộ Hiến pháp mới được công bố. Nhiều năm sau đó, tôi tiếp tục tự hỏi không biết chủ nghĩa phản chiến được gói ghém trong Hiến pháp của chúng ta, trong đó có việc từ bỏ việc sử dụng quân sự, và sau đó, là Ba Nguyên Tắc Nguyên Tử (không sở hữu, không sản xuất, và không đem vào lãnh vực vũ khí nguyên tử của Nhật Bản) có phải là một sự trình bày chính xác về những lý tưởng căn bản của một Nhật Bản thời hậu chiến. Như đã xảy ra, Nhật Bản dần dần thay đổi luật để được quyền sở hữu lực lượng quân sự, và những cam kết bí mật được thực hiện vào những năm 1960 đã đồng ý để Hoa Kỳ đưa vũ khí nguyên tử vào quần đảo, vì thế biến Ba Nguyên Tắc Nguyên Tử trở nên vô nghĩa. Những lý tưởng về lòng nhân đạo hậu chiến, tuy thế, không hoàn toàn bị lãng quên. Những người đã chết, vẫn nhìn xuống chúng ta, bắt chúng ta phải kính trọng những lý tưởng ấy, và ký ức của họ đã ngăn ngừa chúng ta không được giảm thiểu cái tính chất tàn phá của vũ khí nguyên tử để nhân danh chủ nghĩa thực tế về khía cạnh chính trị. Chúng ta bị chống đối. Đây là khía cạnh thiếu minh bạch của Nhật Bản đương thời: một quốc gia chống chiến tranh được che chở dưới vòm tán nguyên tử của Hoa Kỳ. Người ta hy vọng là tai nạn ở nhà máy Fukushima sẽ giúp người Nhật tưởng nhớ đến nạn nhân của Hiroshima và Nagasaki, để nhận biết sự nguy hiểm của nguyên tử lực và chấm dứt cái ảo tưởng dùng chính sách nguyên tử để chống đối phương mà những người chủ trương chính sách này đã cổ vũ.

Khi tôi đến tuổi trưởng thành, tôi viết một quyển truyện có tựa đề là “Hãy Dạy Cho Chúng Tôi Cách Thoát Khỏi Cơn Điên.” Bây giờ, đến gân cuối cuộc đời, tôi đang viết quyển “tiểu thuyết cuối cùng.”  Nếu tôi tìm được cách thoát khỏi cơn điên cuồng hiện nay, quyển sách mà tôi đang viết sẽ bắt đầu bằng câu kết thúc trong cuốn thơ Hỏa Ngục của Dante: “Và sau đó chúng tôi ra bên ngoài để, lại một lần nữa, ngắm nhìn những vì sao.”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s