Năm mèo nói chuyện Cats

(Đàn Mèo) là tên một vở vũ nhạc kịch của Andrew Lloyd Weber. Ông là nhà soạn nhạc kịch nổi tiếng với nhiều tác phẩm được nhiều giải thưởng về âm nhạc trong đó có the Phantom of the Opera (Bóng Ma Trong Nhạc Viện), Sunset Boulevard (Đại Lộ Hoàng Hôn). Phải thú thật, tôi chưa được xem vở ca vũ nhạc kịch Cats này ở trong nhà hát, mà xem DVD mượn ở thư viện. Những con mèo hóa trang cầu kỳ công phu rất xinh đẹp. Nếu được xem trên sân khấu có lẽ còn lộng lẫy hơn nhiều. Xem mà chẳng hiểu cái gì chỉ thấy một đàn mèo do các ca vũ công hóa trang rất đẹp, ca múa hát mà chẳng biết nội dung câu chuyện ra sao. Bài hát nhiều khi nghe tiếng được tiếng mất hiểu bài hát thì lõm bõm còn cốt truyện thì mù mờ. Cuối cùng tôi phải đọc Wikipedia để hiệu đại ý cốt truyện. Nhờ đọc Wikipedia tôi được biết ông Webber đã dựa vào một quyển thơ của T. S. Eliot có nhan đề là Old Possum’s Book of Practical Cats (Quyển sách của con possum già về những con mèo thực tế). Thế là tôi lại vào thư viện mượn quyển thơ này về đọc để xem ông Eliot nói gì.

Thomas Stearns Eliot được giải Nobel năm 1948 nổi tiếng về nhiều mặt văn thơ kịch và phê bình văn học. The Waste Land (Đất Hoang) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông. Quyển thơ về loài mèo này là một tác phẩm ngụ ngôn nói về một xã hội tương tự như xã hội của loài người. Những con mèo này có cá tính đặc biệt và chúng sống chung với nhau cũng tranh giành, cướp giật, yêu thương, ghen tị, cũng tìm kiếm một thứ hạnh phúc lâu dài, cũng mơ đến một thế giới tốt đẹp hơn, như thiên đàng, chẳng hạn.

Vở nhạc kịch Đàn Mèo bao gồm các con mèo đã được T. S. Eliot đặt tên. Ông quan niệm mỗi con mèo phải có ba tên. Một tên thông thường giống như loài người đặt ra để gọi thí như Victor hay Johnathan. Có người lại thích dùng tên triết gia như Plato hay Admetus. Mèo cũng nên có một cái tên đặc biệt để nói lên đặc tính riêng và không nhầm lẫn với những con mèo khác. Eliot tùy theo hình dáng, thói quen, hay biệt tài của mèo và ông cũng dùng nơi trú ngụ của những con mèo để đặt tên cho nhân vật. Vở nhạc kịch có rất nhiều nhân vật. Mỗi khi loài mèo có dạ tiệc khiêu vũ chúng đứng chật cả sân khấu và che mắt nhìn về khán giả, loài người, đang ngồi trong bóng tối nhìn ngắm chúng. Tôi xin nhắc chỉ một vài tên của những con mèo xuất hiện thường xuyên như sau:

The Old Gumbie Cat còn có tên là Jennyanydot, Growltiger còn có tên là Bravo Cat, Gus hay Asparagus là con mèo sống ở trong nhà hát, và Rum Tum Tugger còn là con mèo tò mò. Xã hội mèo họp nhau ở một con hẽm vắng vào một đêm mùa hè ấm áp có trăng tỏa sáng. Các con mèo lần lượt xuất hiện. Có con sống ở trong biệt thự của vua chúa, có con sống ở nhà dân thường, có con sống ở đường rầy xe lửa. Có một con mèo cái, già tàn tạ, nghèo nàn, xuất hiện và đàn mèo xì xào chê bai rồi lảng tránh. Con mèo cái già này là có tên là Grizabella. Đàn mèo này thuộc tộc nhà mèo Jellicles. Trưởng tộc này là  ông già Deuteronomy đã sống chín kiếp mèo và có chín bà vợ (có người đồn là ông ta có đến chín mươi chín vợ).

Ông trưởng tộc mèo nói về cuộc sống và vận mệnh của tộc mèo này và những cuộc chiến tranh thường xảy ra với loại chó Pollicle. Đang lúc ông nói chuyện thì có tiếng rơi vỡ loảng xoảng. Đàn mèo tưởng là Macavity, một con mèo hung dữ thường bắt nạt những con mèo khác, xuất hiện nhưng không phải. Trong đêm trăng loài mèo ca hát nhảy múa trong buổi dạ tiệc có tên là The Jellicle Ball để phô trương sức mạnh của loài mèo. Sau khi buổi dạ vũ chấm dứt, Grizabella lại xuất hiện và lại bị loài mèo gạt ra ngoài lề xã hội. Bà mèo già đơn độc này cất tiếng hát cao vút một đoạn của bài hát Memory nhắc nhở những ngày bà còn trẻ đẹp và hạnh phúc. Ông trưởng tộc Deuteromomy giải thích ý nghĩa của hạnh phúc và dùng Grizabella để làm thí dụ. Macavity, con mèo hung ác đạo tặc, xuất hiện bắt cóc ông già Deuteronomy nhưng nhờ có mấy chú mèo thanh niên giải cứu và đuổi Macavity đi. Grizabella lại xuất hiện và Deuteronomy mời bà nói về cuộc đời của bà. Câu chuyện của bà qua bài hát Memory đã làm tộc mèo này thương xót bà và loài mèo đồng ý để Deuteronomy gửi bà Grizabella về miền đất tốt đẹp tên là Heaviside Layer.

Vở ca vũ nhạc kịch này được trình diễn suốt hơn hai mươi năm và đã đưa nhiều người trở nên có tên tuổi. Bài hát Memory được nhiều người hát trong đó có Barbra Streisand. Bài hát này do Trevor Nunn viết lời có những câu
thơ có hình ảnh rất đẹp.