Phần cuối của Tấm gương vô ảnh – Những Trải Nghiệm về cuộc sống ở Thiền viện

Janwillem van de Wetering, gọi tắt là Jan, tự bản chất không phải là nhà tu mà là nhà văn. Anh đến thiền viện, ban đầu có lẽ vì chán đời muốn xa rời khung cảnh mà anh ta đang sống, cộng thêm óc mạo hiểm phiêu lưu, cộng thêm lòng hiếu kỳ muốn biết về một nền văn hóa đặc biệt, nên chọn thiền viện làm điểm nghiên cứu. Anh không dự đoán được mức khó khăn của công việc tu hành. Tôi đoán, tự trong đáy lòng anh muốn tìm đề tài để viết, chưa biết bắt đầu từ đâu, và muốn viết về một đề tài nào đó người ta cần hiểu biết về đề tài này. Xin được tu học ở thiền viện là bước bắt đầu, đúng đắn và nghiêm túc. Anh không lợi dụng nhà tu bởi vì anh hết sức khổ công, tự đòi hỏi ở mình sự tu hành khá nghiêm khắc, đúng với khuôn khổ, và tuân theo những qui tắc luật lệ của thiền viện, dẫu không hoàn
toàn. Mà ở đời có cái gì hoàn toàn đâu.

Ngồi thiền là công việc khó khăn. Ngồi thiền là một bài thực tập tự đánh mất mình, học tách rời để không vướng bận với bất cứ điều gì. Tại sao phải ngồi theo tư thế hoa sen? Tại vì nó tạo vị trí thăng bằng cho thể xác lẫn tư tưởng. Ngồi vắt bàn chân lên bắp đùi nếu không quen sẽ rất đau đớn. Jan không chỉ ngồi kiểu hoa sen năm hay mười phút, anh ta phải ngồi từ 6 đến 8 giờ đồng hồ mỗi ngày. Suốt ba tháng đầu tiên Jan như ngồi trên tổ kiến lửa. Các nhà sư trẻ có thể ngủ chợp mắt trong lúc ngồi thiền nhưng nếu anh ngủ quên là anh lại ngã.

Ngồi thiền định, giúp Jan cảm nhận được chung quanh anh vạn vật có nhiều hình dáng và màu sắc sắc sảo hơn có lẽ vì anh tập trung tư tưởng nhiều hơn. Khi anh vào trong vườn của thiền viện, nhìn thấy rêu trên đá, những con cá vàng bơi thong dong, hay cỏ lau phất phơ trong gió cũng làm anh cảm thấy ngất ngây. Thả hồn vào hình dáng và màu sắc làm anh có cảm giác say sưa như hút hashish của Phi châu (tôi đoán là cần sa). Không phải chỉ màu sắc và hình dáng của cảnh đẹp vật đẹp, ngay cả thùng rác hay bãi phân cũng làm anh có cảm giác ngất ngây như thế. Cảm giác này làm Jan thấy thỏa mãn hơn hashish, loại thuốc đã làm anh thấy nhiều ảo ảnh như vô số đường xa lộ xuất hiện liên tục trong thứ ánh sáng không thật. Cuộc sống ở thiền viện và ngồi thiền đã làm anh sử dụng giác quan tinh tế hơn, anh nhìn thấy cái đẹp của thiên nhiên. Jan nghe kể rằng có một thiền sinh được giao cho một câu koan hỏi rằng, Tinh túy phật giáo là gì. Vị thiền sư này trả lời đó là cái đẹp của cây tùng. Jan nghĩ cây cỏ muôn đời vẫn đẹp nhưng ai có thì giờ đi nhìn ngắm cây cỏ?

Sáu tháng đầu tiên trong năm, và vào tuần lễ đầu tiên của tháng, thiền viện đóng cửa một tuần, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Tuần lễ này gọi là sesshin. Điều này có nghĩa là Jan không thể ra ngoài để ăn “mặn” theo toa bác sĩ. Có một tuần quan trọng nhất trong tất cả sesshins gọi là rohatsu các thiền sinh phải ngồi thiền 15 giờ một ngày. Mùa Đông trong thiền viện rất lạnh. Jan được một người bạn tu hướng dẫn, anh mua nhiều đậu lạc và nho khô dự trữ để cung cấp thêm năng lượng cho cơ thể bởi vì thức ăn của thiền viện quá đạm bạc với cơ thể người Âu châu vì cao lớn nên đòi hỏi nhiều năng lượng hơn. Để sưởi ấm Jan mua một cái hộp nhỏ bằng cái hộp đựng kính đeo mắt và dùng hộp này để chứa vài thỏi than cháy. Chỉ cần áp cái hộp sưởi cá nhân này vào giữa bụng sẽ giữ được hơi ấm cho toàn cơ thể.

Trước ngày Rohatsu, sư phụ gọi Jan vào nói chuyện. Không hiểu tiếng Nhật, Jan lờ mờ đoán là sư phụ tỏ ý không hài lòng với mức độ cố gắng của anh, nếu anh không qua được tuần lễ Rohatsu này anh sẽ bị trục xuất ra khỏi thiền viện.

Khi ngồi thiền nhất là trong tuần lễ Rohatsu người nào lơ đãng hoặc ngủ gật sẽ bị phạt. Người giữ trách nhiệm đi tuần khi phát giác người phạm lỗi sẽ dùng một thanh gỗ mỏng có bề ngang chừng 5 phân chạm nhẹ vào vai người bị phạt. Sau đó hai người sẽ cúi chào nhau. Và người đi tuần sẽ dùng thanh gậy này đánh người bị phạt tám cái. Thanh gỗ này khá dẻo và người ta phải tập cách khi đánh phải làm sao cho thanh gỗ chỉ chạm đến người rồi bật ra chứ không đè lâu. Có khi người Jan bị thâm tím vì vết đánh nhưng anh vẫn không bỏ cuộc. Đêm thứ tư trong tuần, giữa khuya, Jan la hét chói lói ngã lăn quay vì cái lò sưởi cá nhân làm anh bị phỏng bụng. Anh không biết là người ta phải quấn nhiều lớp vải bao bọc cái hộp chứa than này. Anh được đưa đi băng bó và sau đó trở lại ngồi thiền dù rất là đau đớn. Vi phạm lỗi này Jan tưởng là anh phải xuất viện tuy nhiên anh lại được mọi người khen ngời và được người trưởng lớp tự tay tắm cho anh. Sau tuần lễ tu tập khó khăn này các thiền sinh được tắm nước nóng. Người ta đều tắm gội sạch sẽ trước khi vào hồ tắm nước nóng. Anh đã hiểu lầm lời của sư phụ, thật ra sư phụ bảo là anh không bị bắt buộc phải tham gia Rohatsu, anh có thể rời Rohatsu bất cứ khi nào nếu anh không chịu nổi.

Phía sau thiền viện là một nghĩa địa. Khách thập phương thường đến cúng lễ. Người ta cũng mang chó và mèo hoang đến bỏ trong nghĩa địa vì người ta không muốn phạm tội sát sinh. Những con mèo con thường thì bị chó giết chết. Jan khóc khi anh cứu một con mèo con mang ra nắng sưởi ấm và cho mèo uống sữa ngay lập tức con mèo bị chó cắn ngang cổ, quật con mèo con cho đến chết. Nếu chó không giết những con mèo thì các nhà sư sẽ lén nhận chìm những con mèo cho đến chết. Bất ngờ khám phá ra sự bạo động này làm chấn động tâm hồn của Jan rất nhiều dù anh là người đã từng lăn lóc trong cuộc đời, ở trong băng đảng lái xe gắn máy, chuyên môn dụ dỗ các cô gái đẹp, một người tương đối có thể nói là thông thái đọc rất nhiều sách triết lý đòi hỏi tư tưởng thâm sâu. Anh đứng giữa nghĩa địa bật khóc như trẻ con.

Trong quyển sách, Jan kể nhiều chuyện vui nho nhỏ về thiền. Ở bên Tàu có một vị thiền sư dẫn đệ tử đi tham quan. Nhóm thiền sư và đệ tử này gặp một nhóm nhà sư thuộc môn phái khác. Một vị sư trong nhóm mới này hỏi một trong những đồ đệ của thiền sư, “thầy các ông có tài gì?  Thầy của tôi nhiều phép lạ lắm! Nếu có người ở bên kia sông cầm một tờ giấy trắng đưa lên. Thầy của tôi ở bên này sông có thể cầm bút vẽ lên không trung mà hình sẽ
hiện lên tờ giấy bên kia sông.” Vị sư trẻ ,đồ đệ của thiền sư nói: “ồ, thầy tôi phép thuật cao cường lắm! Ông làm được nhiều phép kinh hồn, như khi ông ngủ thì ông thật sự ngủ, còn khi ông ăn thì ông thật sự ăn.”

Thêm một chuyện vui nữa. Có một vị sư dạy các thiền sinh tĩnh tâm. Một hôm có một trận động đất rất to. Vị thiền sư hướng dẫn các môn sinh chạy qua khỏi sân và vào nhà bếp an toàn. Ngồi nghỉ mệt ông cầm ly lên uống và nói với môn đệ. Các con thấy không, nhờ tĩnh tâm mà ta đưa các con ra khỏi chùa đang sập thoát qua một cái sân đang sụp đổ và vào đến bếp là nơi an toàn nhất. Các con có thấy ly nước ta cầm trên tay không, không chao đảo sóng sánh chút nào cả.” Một thiền sinh mỉm cười bảo rằng: “Nhưng thưa thầy, cái ly thầy đang cầm trên tay không phải là ly nước uống là là ly nước tương đấy ạ!”

Sau mười tám tháng tu học Jan thấy mình không hiểu biết thêm về cuộc đời, sự sống, và cái chết. Nếu sống có nghĩa là đi dần đến cái chết. Thế thì tại sao lại phải sống? Jan suy nghĩ:

Kyoto được bao bọc bởi nhiều núi non và tôi đã lái xe xì cút tơ đi mà quên không mang theo bản đồ. Chừng nửa giờ đồng hồ sau tôi không còn nhìn thấy người chung quanh nữa. Tôi đang chạy trên một con đường núi dành cho người đi rừng leo núi. Tôi nhìn thấy rừng, những vùng dành cho người trượt tuyết mùa đông, và thỉnh thoảng ánh lấp loáng của hồ Biwa, khá xa ở dưới chân núi. Gần triền núi, tôi nghĩ tôi, chỉ cần bẻ ngoặc tay lái một chút, là tôi có thể giải quyết được nhiều vấn đề một cách dễ dàng. Một chiếc xì cút tơ nát nhầu, một thân thể gãy nát, và thế giới loài người, cả vũ trụ nữa, đều không còn tồn tại nữa.

Tôi dựng xe gắn máy và ngồi trên một tảng đá cheo leo, thò chân đong đưa khuấy bầu không gian trống rỗng. Chỉ cần một cái nhảy và a lê hấp, cả xứ Trung hoa và 700 triệu người dân cũng sẽ biến mất.

Thế linh hồn của tôi thì như thế nào? Đức Phật luôn luôn từ chối trả lời câu hỏi này. Có linh hồn hay không có linh hồn, có cuộc đời sau cái chết hay không có cuộc đời sau cái chết, là một dấu hỏi được bỏ trống. Đi theo bát chính đạo và câu hỏi này sẽ tự biến mất, về sau, hay bây giờ, điều này không quan trọng. Nếu tôi nhảy vào trong cái hoàn toàn Hư Không, cái gì sẽ còn sót lại? Và giả tỉ như có cái gì đó còn sót lại, thì cái ấy sẽ đi về đâu? Thiên đàng hay Địa ngục? Cái địa ngục của những người tự tử, những khối cầu chứa đầy những bóng dáng buồn phiền va chạm vào nhau rồi trách phiền về những cái bóng trong suốt? Tôi rút chân lên, đi trở lại xe gắn máy và trở về trong vòng một giờ đồng hồ.

Anh có thể tu, ngủ gục, té xuống, tỉnh dậy ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Bài học anh học ở thiền viện là: Không những người ta phải cố gắng học hỏi tu tập hết sức mình, người ta còn phải, trong khi cố gắng tu học, phải giữ cho lòng mình không bị trói buộc với bất cứ cái gì mà mình đang cố gắng đạt đến.

Jan từ giả thiền viện, từ giã Leo Marks, một người đồng tính luyến ái anh gặp ở Kobe và thỉnh thoảng đến nhà của Leo để nghỉ ngơi đọc sách, và Han-san (ông Han) người thiền sinh ở cùng tịnh thất, trở về Hòa Lan. Cái hiếu kỳ của Jan về tôn giáo, văn hóa, phong tục, và thiên nhiên của Nhật cùng với sự cố gắng học hỏi của anh, cái cười hóm hỉnh mỗi khi anh thất bại, cái thành thật soi rọi vào tâm hồn của anh là điều hấp dẫn của quyển sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s