Nụ Hôn Đầu – Judith Ortiz Cofer p.1

Tôi bắt đầu biết yêu, hay đó chỉ là hiện tượng của những chất kích thích tố trong cơ thể tôi bị đánh thức sau một giấc ngủ dài. Bỗng nhiên, mục tiêu trong ngày của tôi chỉ chú trọng vào một việc, được nhìn thấy bóng dáng người tôi thầm yêu. Và chuyện này phải được giữ kín, bởi vì tôi đã, dĩ nhiên, theo truyền thống muôn đời của những mối tình bất hạnh, chọn yêu một chàng trai nằm bên ngoài tầm tay của tôi. Hắn không phải là người Puerto Rico . Hắn là người Ý và là con nhà giàu có, lớn tuổi hơn tôi và đã học năm cuối của Trung học trong khi tôi mới vào lớp Chín. Lần đầu, tôi gặp hắn đang ở trong hành lang, đứng tựa lưng vào vách tường chỗ lằn ranh chia đôi địa phận giữa nam sinh và nữ sinh cho học sinh lớp nhỏ. Trông hắn thật là đẹp trai ngoại hạng như tài tử Marlon Brando thời trẻ – giống đến cả cái nụ cười nhếch mép mỉa mai. Tất cả những điều tôi biết về gã học trò này, tên tài tử đóng vai chính trong những cơn mơ hoang đường ngượng ngập của tôi chỉ có ngần này: hắn là cháu của ông chủ của cái siêu thị trong khu phố của tôi; tôi nghe nói hắn thường hay tổ chức tiệc tùng trong ngôi nhà xinh đẹp của cha mẹ hắn ở ngoại ô, gia đình hắn có tiền và tiền này đã được tặng cho trường tôi bằng nhiều cách) – và có một chi tiết làm chân tôi run rẩy; đó là hắn làm việc trong cái siêu thị gần căn chung cư tôi đang ở vào cuối tuần và suốt mùa hè.

Mẹ tôi không thể hiểu tại sao tôi lại hăng hái tình nguyện để mẹ sai bảo đi mua những thứ lặt vặt liên miên không dứt. Tôi hăng hái nhận bất cứ cơ hội nào từ thứ Sáu cho đến chiều thứ Bảy để được đi mua trứng, thuốc lá, sữa (tôi cố uống càng nhiều càng tốt mặc dù tôi rất chán cái của quỷ này) – những thức ăn thức uống mẹ mua từ tiệm của Mỹ.

Hết tuần này đến tuần khác tôi lang thang giữa những dãy kệ hàng hóa mắt liếc nhìn về phía kho chứa hàng ở phía sau, nín thở hy vọng sẽ gặp hoàng tử của lòng tôi. Tôi chẳng có kế hoạch gì cả. Tôi giống như một tín đồ đi hành hương chỉ mơ ước được nhìn thấy Mecca . Tôi cũng chẳng mong gì hắn sẽ chú ý đến tôi. Đây chỉ là một nỗi đau khổ ngọt ngào.

Có một ngày tôi nhìn thấy hắn mặc toàn trắng như là một y sĩ giải phẩu: quần áo trắng, mũ trắng, và (một hình ảnh ghê rợn nhưng chẳng ảnh hưởng đến đôi mắt mờ vì yêu của tôi) cái tấm tạp dề dính đầy vết máu. Hắn đang giúp khuân một miếng thịt bò to tướng vào tủ lạnh của tiệm.  Có lẽ tôi đứng tần ngần nơi đấy như một chị ngố, bởi vì tôi nhớ là hắn nhìn thấy tôi, hắn còn nói chuyện với tôi nữa. Tôi xấu hổ muốn chết được. Tôi nghĩ hắn đã nói, “Làm ơn tránh qua một bên,” và hắn dường như thả nụ cười về hướng tôi.

Sau lần ấy, tôi chủ động tạo cơ hội để đi siêu thị. Tôi trông chừng gói thuốc lá của mẹ tôi sau lâu cạn quá. Tôi muốn mẹ tôi hút thật nhanh. Tôi uống sữa và bắt em tôi uống nhiều hơn (tôi phải hối lộ em tôi uống ly thứ hai bằng phần bánh Fig Newton của tôi, một loại bánh mà cả hai chúng tôi cùng thích nhưng chúng tôi chỉ được phép mỗi người được phân nửa hộp bánh.) Tôi hy sinh phần bánh của tôi cho tình yêu, và nhìn mẹ tôi hút gói thuốc L&M không mấy hứng thú tôi nghĩ (Trời, đừng có như thế) có lẽ mẹ sẽ bớt hút thuốc hay bỏ thói quen hút thuốc luôn. Đây là thời điểm tối quan trọng với tôi.

Tôi nghĩ rằng tôi đã giữ mối tình cô đơn của tôi một cách bí mật. Rất nhiều đêm nước mắt tôi nhỏ xuống gối nóng hổi khóc cho những điều đã làm cho chúng tôi không thể đến với nhau. Trong óc của tôi, tôi chẳng nghi ngờ gì là hắn sẽ chẳng bao giờ để ý đến tôi do đó tôi tự do nhìn hắn đắm đuối – tôi là người vô hình. Hắn không nhìn thấy tôi bởi vì tôi chỉ là một con bé gầy gò người Puerto Rico , một con bé mới bắt đầu vào lớp Chín và không thuộc vào nhóm nào có liên hệ với hắn.

Cuối năm học, tôi mới vỡ lẽ là tôi không vô hình như tôi lầm tưởng. Tôi học được một bài học về bản tính con người – sự tán tỉnh nịnh hót để lại một cái mùi, cái mùi mà chúng ta đều được trang bị để nhận ra, và không cần biết là nó mơ hồ đến độ, chúng ta đều tìm đến cái nguồn phát ra cái mùi này.

Vào tháng Sáu, các vị nữ tu trong trường của tôi luôn tổ chức một vài buổi trình diễn văn thơ hay âm nhạc có tính chất văn hóa. Trong năm lớp Chín của tôi đó là một buổi đại tiệc theo kiểu người La Mã. Chúng tôi đã học suốt năm môn bi kịch Hy Lạp (một vỡ kịch ngắn nhập môn về lịch sử của tôn giáo – trong đó chúng tôi lướt nhanh từ Sophocles đến Euripedes hướng về thời kỳ đầu của những người Công giáo tuẩn đạo) và cô nữ tu trẻ rất năng động Agnes nổi hứng muốn làm một cái gì đó thật xôm tụ. Cô ra lệnh cho toàn thể học sinh (chừng 300 đứa) phải về nhà bắt mẹ phải may togas (y phục đàn ông La Mã thời cổ xưa) cho chúng tôi bằng những tấm khăn trải giường. Cô phân phối những bản cóp pi mimeo mới vừa in bằng máy in tay của những mẫu may trang phục La Mã. Tôi nhớ mùi rượu nồng nặc trên những tờ giấy mimeo này và hầu như học sinh nào trong hội trường cũng đưa tờ giấy in lên mũi mà hít vào thật sâu –  những tờ giấy mimeo ngày ấy cũng làm chúng tôi ngây ngất, cái say sưa mà trẻ con thuộc thế hệ máy cóp pi Xerox không được hưởng. Rồi vào lúc những tuần lễ cuối năm học kéo dài lê thê, thành phố Paterson biến thành một lò nung và chúng tôi héo rũ trong bộ đồng phục khó chịu. Chúng tôi làm việc vất vả như những tên nô lệ La Mã cuống cuồng xây một tòa dinh thự (giả) để tổ chức đại yến ngay trong thính phòng của trường. Co Agnes muốn làm một khán đài để đôi nam nữ chủ của buổi đại yến này sẽ đăng đàn như các bậc vua chúa lên ngôi.