Đọc Tim O’Brien ở Hà Nội – Tác giả: Matt Steinglass

Tháng trước, vào một ngày xám ngắt buồn tẻ, tiêu biểu của những ngày mùa đông Hà Nội, tôi ghé thăm tiệm sách duy nhất của thành phố nổi tiếng chuyên về ngoại ngữ, the Bookworm (Mọt Sách), để được trò chuyện với một người Việt Nam nào đó thích đọc tác giả Tim O’Brien. “The Things They Caried,” (Những Điều Họ Cưu Mang), tập truyện ngắn bao gồm những truyện ngắn có liên hệ với nhau về chiến tranh Việt Nam của O’Brien đã được khen ngợi rất nhiều, vừa mới tái xuất bản để kỷ niệm hai mươi năm nó chào đời. Tôi muốn tập hợp lại quan điểm của độc giả Việt về tác phẩm của O’Brien, nhưng tôi đã mất rất nhiều ngày dùng điện thoại và gửi e-mail để tìm người Hà Nội đã từng đọc qua tác phẩm này. Cuối cùng, vị quản lý nhà sách Bookworm đã đề nghị tôi nói chuyện với Trần Ngọc Hiếu, giảng viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  Phải khá lâu tôi mới được gặp anh, bởi vì anh là người duy nhất trong thành phố không dùng điện thoại di động. Hiếu, 30, trông trẻ hơn số tuổi, bù lại anh có vẻ chững chạc nhờ cái áo khoác sport coat và cách đối thoại rất cân nhắc với vốn ngữ vựng vô cùng phong phú, thỉnh thoảng anh ngừng lại, xin lỗi vì đã không nói tiếng Anh lưu loát (như người Anh).

“Nhà văn Việt nên học cách kể chuyện chiến tranh như O’Brien,” Hiếu nói.  “chế nhạo bằng sự khôi hài, không hạn hẹp trong cách biểu lộ cốt truyện. Một thỏa hiệp vẹn toàn giữa sự thật và ước mơ.”

Lẽ ra, việc tìm thấy độc giả Việt có thể bàn luận về O’Brien không đến nỗi khó khăn như thế.  Tác giả, nói cho cùng, là một nhà văn Hoa Kỳ có ảnh hưởng rộng lớn chuyên viết về chiến tranh Việt Nam. Người ta tin rằng tác phẩm của ông – bao gồm “Nếu Tôi Chết trong Khu Cận Chiến” (If I Die in a Combat Zone, 1973) và “Theo Đuổi Cacciato” (Going After Cacciato, 1978) – phải được nhiều độc giả Việt Nam biết đến. Tuy nhiên sự thật thì không phải thế.  Hầu hết không tác phẩm lớn nào viết về chiến tranh được độc giả Việt chú ý; những tác phẩm lớn này đã không được dịch ra và xuất bản ở Việt Nam.  Bạn có thể mua cóp-pi của bản tiếng Anh “Dog Soldiers” (Lính Khổ như Chó) của Robert Stone  hay “Tree of Smoke” (Cột Khói) của Dennis Johnson, hoặc là các tác phẩm kinh điển chuyên về tiểu luận và phê bình của Hoa Kỳ từ những người bán sách dạo tấn công không ngừng du khách ở các khu vực lân cận Hà Nội và Sài Gòn, nhưng cũng như hầu hết tất cả mọi người trên thế giới, rất ít người Việt Nam đọc sách ngoại quốc để giải trí.  Chỉ một nhóm nhỏ bao gồm những nhà chuyên môn về văn học, được ưu đãi và có thẩm quyền đã đọc những bản dịch không chính thức của một số tác phẩm Hoa Kỳ trên những trang mạng tiếng Việt ở hải ngoại, như Talawas.  Đa số người Việt vẫn còn xa lạ với văn học Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam.

Ở một mức độ nào đó, sự lạ lẫm này bắt nguồn từ việc kiểm duyệt.  Việt Nam hôm nay trên nhiều phương diện đã là một xã hội cời mở; người Việt có thể lướt mạng (tuy nhiện bạn có thể bị cầm tù nếu viết blog về đề tài chính trị), các chương trình truyền hình ngoại quốc tràn lan vào Việt Nam qua hệ thống vệ tinh và đường dây cáp, những bộ phim lậu được lưu chuyển công khai.  Nhưng khi nói về sách in, guồng máy kiểm duyệt cũ của chế độ Cộng sản vẫn còn đó, bất di bất dịch.

Nhưng kiểm duyệt chỉ là một phần của vấn đề.  Người Việt dường như rất hững hờ với quan điểm của người ngoại quốc về chiến tranh Việt Nam.  Thí dụ như “Người Mỹ Thầm Lặng” của Graham Greene, dù đã được dịch ra, hầu hết người Việt Nam tôi có dịp nói chuyện đều không thích nó.  Họ cho rằng nhân vật chính người Việt của quyển sách, cô Phương xinh đẹp, có vẻ thấp hèn với bản tính thụ động của cô.  Sự hững hờ này lan truyền cả đến phim ảnh.  Bạn có thể mua phim “Apocalypse Now” (Giờ Khải Huyền hay Giờ Tận Thế) ở bất cứ tiệm bán DVD nào ở Hà Nội nhưng ngay cả những người sành điệu phim ảnh mà tôi đã nói chuyện vẫn chưa xem nó.  Năm ngoái, một rạp chiếu phim, thuộc loại có hệ thống mới xây cất ở Việt Nam, đã chiếu hai cuộn phim mà người ta tưởng không thể thoát mạng lưới kiểm duyệt: “Watchmen,” (Người Canh Giữ) trong phim này có phần tiếp theo là chàng siêu nhân Hoa Kỳ thành công trong việc giúp Nixon thắng chiến tranh Việt Nam, và “Tropic Thunder,” (Sấm Nhiệt Đới) một phim khôi hài chế nhạo những phim có tính cách nghiêm trang đứng đắn như Platoon (Tiểu Đội).  Cả hai phim này đều làm khán giả ngáp dài.

Trong trường hợp Sấm Nhiệt Đới, người Việt đã không nhận ra hàm ý diễu cợt trong phim. Cuốn phim chủ yếu chế nhạo những biểu tượng quan trọng về chiến tranh Việt Nam trong văn hóa Hoa Kỳ, một câu chuyện tương tự như “Heart of Darkness[1]” (Tâm điểm của Tối Tăm): sự thoái hóa đã biến những người trẻ tuổi ngây thơ trở nên những kẻ dã man, sự tan rã của lý do tham gia một cuộc chiến khốc liệt trong một xã hội xa lạ hoàn toàn không thể hiểu thấu.

Người Việt Nam, rõ ràng, là hiện thân của cái xã hội đó.  Họ không nghĩ là họ khó hiểu đến thế.  Họ cũng không nghĩ là họ im lặng và đầy bí ẩn, như Phương của Greene.  Hơn nữa, chính quyền Việt Nam đương nhiệm là hậu thân của phe chiến thắng trong cuộc chiến tranh, một tình trạng ít mỉa mai hơn là kinh nghiệm của người Mỹ về sa lầy và bại trận.

Một câu chuyện chính trị chiến thắng, được hỗ trợ bằng sự khắc khổ cứng rắn trong sách giáo khoa và viện bảo tàng, đã giới hạn các thể loại truyện có thể được  phát triển thành văn học Việt Nam viết về cuộc “chiến tranh của người Mỹ.”

Như Hiếu đã nói, không phải sự kiểm duyệt làm giới hạn nội dung của các tác phẩm văn học, nhưng nó (sự kiểm duyệt) đã thúc đẩy các tác giả, kể cả những người bất phục tùng, chú tâm phá vỡ việc bị cấm đoán không được nói sự thật trong nội dung hơn là tìm tòi cái mới lạ về mặt thẫm mỹ.

“Nhà văn Việt Nam vẫn còn chú trọng việc kể lại những ‘câu chuyện có thật’ không được giảng dạy trong trường lớp, những sự thật bí mật,” Hiếu nói. Phần lớn bỏ qua cách tiếp cận chính thức những chủ đề phức tạp. “Nếu anh xem phim ‘Đừng Đốt,’ anh sẽ thấy.”

“Đừng Đốt” (xuất bản trên nước Mỹ năm 2007 với tựa đề “Đêm Qua Tôi Mơ Thấy Hòa Bình”) là tác phẩm quan trọng mới nhất về văn học chiến tranh Việt Nam.  Quyển nhật ký của một nữ bác sĩ trẻ tuổi tên là Đặng Thùy Trâm chết năm 1970, đã được bán mấy trăm ngàn quyển khi xuất bản ở Việt Nam năm 2005.  Người Việt thấy cách viết chân thật, đầy tình cảm, của Trâm rất xúc động và bất ngờ.  Những nhà phê bình ở Mỹ, tuy thế, đa số cho rằng quyển sách này không đáng chú ý.

Cái dường như thiếu vắng trong văn học Việt Nam, trên quan điểm của người Mỹ, là một thứ hỗn loạn phi luân chúng ta thường chờ đợi trong những truyện chiến tranh.  Người Mỹ có khuynh hướng tiếp nhận những tác phẩm Việt Nam có phần nào dữ dội và siêu thực. Tác phẩm hay nhất của Bảo Ninh “Nỗi Buồn Chiến Tranh” xuất bản năm 1991 (xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1995) bao gồm cảnh những cái chết vô nghĩa và lãng phí trên đường mòn Hồ Chí Minh, đã trình bày một cách mỉa mai, lối kể chuyện không theo thứ tự thời gian, gợi nhớ cách viết của O’Brien hay là “Catch-22” (Bắt -22) của Joseph Heller.  Đối với những người lính Bắc Việt trong quyển tiểu thuyết này, cuộc sống trên núi non rừng rú cũng xa lạ và đáng sợ hãi như cuộc sống của những người Mỹ trong truyện của O’Brien.

Năm 1997, một phần của quyển “Những Điều Họ Cưu Mang” đã được xuất bản trên tạp chí văn học mang tên Văn Học Ngoại Quốc.  Nhà xuất bản Nhã Nam sẽ xuất bản toàn thể bản dịch trong năm nay, vài ngàn quyển, tương tự như các quyển tiểu thuyết khác.  Nếu truyện của O’Brien được dịch hay hơn các nhà văn viết tiếng Anh khác đã viết về chiến tranh Việt Nam, đó là vì ông đã làm nổ tung những dự đoán của độc giả, Mỹ cũng như Việt Nam.

Thí dụ, trong một chương rất đáng chú ý ở phần giữa của quyển sách “Những Điều Họ Cưu Mang,” ông ta nói về một câu chuyện do Rat Kiley kể lại, nhân viên cứu thương của tiểu đội và cũng là người kể chuyện không được tin cậy mấy.  Trong câu chuyện này, một anh lính không biết bằng cách nào đã tìm cách mang trót lọt cô người yêu tóc vàng xinh đẹp thời Trung học vào nơi tập bắn của anh ta.  Cô nàng dần dần quen với chiến trận, gia nhập lực lượng đặc biệt Mũ Xanh và cuối cùng cũng lội trận xuyên rừng đi phục kích cả tuần và khi trở về đeo một xâu chuỗi lưỡi người.  Cuối cùng chúng ta chợt nhận ra là chúng ta đang đọc một truyện ngắn có tính cách chế nhạo và phi lý cùng loại với “tâm điểm của tối tăm.”

Trong một chương trước đó có tên là “Cách Kể Chuyện Thật về Chiến Tranh,” O’Brien nói nếu như nó quan trọng ở chỗ nó có thật sự xảy ra hay không, thì câu chuyện này không có “thật”: “Không có sự thật làm căn bản, nó chỉ là chuyện tầm thường của sự phóng đại để được chú ý, hoàn toàn giả dối như phim ảnh của Hollywood, không có thật cũng như các loại truyện tương tự đều không thật.  Tuy nhiên ngay cả trường hợp nó thật sự xảy ra – và có thể nó đã xảy ra, mọi chuyện đều có thể – thì ngay cả lúc ấy bạn cũng biết nó không thể nào là sự thật, bởi vì một câu chuyện chiến tranh có thật thì không dựa vào thứ sự thật như thế.

O’Brien có ý nói rằng điều mà các quân nhân Mỹ đã khám phá ở Việt Nam giữa những câu chuyện đầy khủng khiếp, là một cách rất tân tiến đặc biệt của sự hiện hữu đòi hỏi phải có một phương pháp kể chuyện siêu thực.  Và người Việt Nam rất yêu thích chủ nghĩa siêu thực. (Haruki Murakami, thí dụ, rất nổi tiếng ở đây.) Họ chỉ không chú ý đến chiến tranh cho lắm.

Matt Steinglass là phóng viên của cơ quan tin tức Đức dpa ở Hà Nội, ông ta sống ở nơi này từ năm 2003.

[1] Tên một truyện dài nổi tiếng của Joseph Conrad.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s