Những cánh chim di 2

Jacques Perrin, đạo diễn của cuốn phim Winged Migration, khi tái tạo đường thiên di của loài whooping crane đã mang đoàn quay phim và các diễn viên chim vào miền Bắc Việt Nam .  Nơi đây vì dụng cụ làm phim của ông còn bị kẹt lại ở Sài Gòn, những gì máy móc có thể thay thế bằng sức người đều được thay thế bằng sức người.  Ông ta đã thuê một cỗ xe bò cho một chú ibis còn gọi là cò quăm nhặt lúa trên xe bò trong lúc đàn sếu (whooping crane) bay lượn trên cánh đồng có những ngọn núi đá vôi tương tự như những ngọn núi tôi đã nhìn thấy trên đường đi từ Bắc vào Nam năm 2005.  Đoạn phim rất ngắn và dẫu biết màn phim này được sắp đặt dàn cảnh, lòng tôi vẫn mềm đi khi nhìn đàn chim trắng lượn trên cánh đồng xanh. Tôi không thể kềm lòng nghĩ đến câu ca dao và điệu dân ca cò lả: con cò bay lả bay la, bay qua ruộng lúa bay về đồng xanh.  

1

Tôi không khỏi cảm khái nghĩ thầm “quê hương tôi đó.”

Nếu ông nhà văn ở châu Âu, hằng năm nhìn cánh cò trở về bói mấy con cá ông nuôi trong hồ, có khi mang theo về một cô bạn gái, thì tôi nghe tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao của đàn ngỗng trời, hay tiếng vỗ cánh rào rạt như tiếng bão mà không có gió của đàn sáo sậu lượn từ cành này sang cành khác trong bầu trời xám như sương mà biết là mùa Thu về. Và tôi cũng suýt buột miệng bảo rằng “quê hương tôi đó” khi nhìn thấy đàn ngỗng tuyết (snow geese) trong cuốn phim Winged Migration bay ngang vùng New York và New Jersey giữa rừng phong đỏ thắm.

2

Ngỗng tuyết làm tổ trên đảo Bylot ở phía Bắc của Canada đối diện với Greenland làm cuộc thiên di; đường bay của chúng ngang qua vòm trời nơi tôi đang sống. Tiếng chim thiên di là tiếng thu ít khi được các nhà thơ ca tụng nhưng với tôi rất thơ mộng vì âm thanh này làm cho tôi nhớ lại một câu truyện về một chú bé bị một lời nguyền biến thành người tí hon.  Chú trộm cây kim của mẹ để làm cây gươm và cỡi trên lưng một con ngỗng đi cứu một công chúa ngỗng và nhờ đó chú trở lại thành người.  Những nguy biến làm cho chú trở nên trưởng thành và chú trở thành một đứa bé biết điều chứ không nghịch ngợm hư hỏng như trước kia.  Cái hình vẽ chú bé cỡi trên lưng ngỗng có cái khăn quàng bay bay là một trong những hình ảnh thơ mộng thời thơ ấu của tôi.

Gần nhà tôi có một cái hồ rất đẹp mà các chú hải âu trên đường di cư đã dừng lại rồi chọn nơi này làm quê hương

3

Mongibeaux, một nhà văn Pháp viết cho tạp chí Figaro Magazine, đã bảo rằng chim không có khái niệm biên giới.  Quê hương của nó là nơi nó tập bay lần đầu tiên.  Nơi nào có thức ăn, khí hậu không quá khắc nghiệt, không có những nguy hiểm cận kề,  có thể dung dưỡng chúng được thì nơi đó là quê hương.  Quan niệm về quê hương của loài chim nghe ra cũng giống quan niệm về quê hương của nhiều người Việt Nam xa xứ.  Quê hương thứ nhất là nơi chúng ta sinh ra đời.  Quê hương thứ hai là nơi chúng ta chọn để sống.

Nói về cuộc thiên di của loài chim không thể bỏ qua Winged Migration, một phim “tài liệu” do Jacques Perrin làm đạo diễn ra mắt khán giả năm 2001.  Gọi là phim tài liệu nhưng thật ra đây là một loại phim đặc biệt mà diễn viên là vài tá chim thuộc nhiều loại được huấn luyện bằng phương pháp imprinting.  Người ta chọn một số chim, ngỗng, cò, sếu, vạc, ấp trứng của chúng bằng phương pháp nhân tạo, huấn luyện chúng cho quen với sự hiện diện của loài người, quen tiếng nói và hiệu lệnh của huấn luyện viên, quen với tiếng còi, quen với máy móc, thức ăn, và tất cả những gì cần thiết để thực hiện nhiệm vụ là bay qua những đoạn đường mà loài người phỏng đoán là đồng loại của chúng hằng năm đã làm những cuộc thiên di.  Phái đoàn làm phim ghi nhận cuộc sống và thiên nhiên với tầm nhìn của các loại chim.  Phim được quay trong bốn năm, qua bảy lục địa (năm châu và hai cực Nam Bắc).  Không hẳn là phim tài liệu, bởi vì phim không nghiên cứu về đời sống, thói quen sinh con đẻ cháu của loài chim theo phương pháp khoa học.  Đây là một cuốn phim ngoạn mục, có mục đích giải trí, bao gồm hơn bốn mươi loài chim lạ, hiếm, và đẹp (sếu mào đỏ, thiên nga, ngỗng mặt rằn, hồng hạc, greater grouse, phoebe, pelican…)  đã bay qua những kỳ quan của thế giới (Vạn Lý Trường Thành, tháp Eiffel, Twin Towers, Monument Valley, lãnh nguyên Siberia, samạc, đảo Hokkaido, …) và những biến động nguy hiểm của thiên nhiên như cơn tuyết lở hay núi băng sụp.  Tôi đã xem phim này nhiều lần và mê mẩn với những đoạn phim tuyệt diệu.  Ở vùng biển phía Bắc Đại Tây Dương có loài gannets là những con ó biển lông trắng mỏ vàng rất xinh xắn, nhưng trước khi nói thêm về loại ó biển này tôi cần phải nói đến một đoạn trong cuốn phim họa hình Spirited Away của Nhật.  Phim Spirited Away nói về cô bé Chihiko đã kết bạn với Haku, một thiếu niên vốn từng là một con rồng trước đây đã cứu cô bé khỏi chết đuối.  Chú bé này vì bị mắc một lời nguyền phải làm nô lệ cho một bà phù thủy ác độc.  Để thoát khỏi thân phận nô lệ Haku phải biến thành rồng đi tìm phương pháp giải lời nguyền và thường bị tấn công.  Kẻ địch của chú là một đoàn chim trắng bằng giấy lao vào thân người chú như những mũi tên nhọn gây thương tích cho chú.  Tôi nhìn đoàn ó biển lông trắng mỏ vàng lao từ không trung xuống mặt biển. Ở trên không trung chúng giống như hỏa tiễn lao đầu xuống biển và khi đến gần mặt biển đôi cánh của chúng thu hẹp lại chúng biến thành những mũi tên trắng đâm vun vút xuống, bén ngót không tóe nước.  Trông chúng giống như những chiếc phi cơ kamikaze tấn công các chiến hạm và cũng giống như đoàn chim giấy đã tấn công Haku.

Hơn 40 loại chim xuất hiện trong Winged Migration, với gần hai chục loại chim là diễn viên chính của cuốn phim.  Đã nhắc đến cuốn phim này không thể không nói đến phần nhạc đệm của Bruno Coulais, một nhà viết nhạc người Pháp.  Thiếu phần nhạc đệm cái hay của phim sẽ giảm đi rất nhiều.  Những bước chân sánh đôi của loài hạc mào đỏ sẽ không có vẻ nhịp nhàng như một bài khiêu vũ của loài chim tiên trên đảo tuyết Hokkaido nếu thiếu tiếng dương cầm nhịp nhàng và giọng nữ tứ ca bay lãng đãng như những bài dân ca Đông Âu trên vòm trời sương khói trong bài The Return of the Crane.  Nhìn thấy những đôi cò stork ngửa cổ, bước lêu nghêu chấp chới giao tình trên sa mạc ngun ngút khói là một cảnh tượng đẹp mắt

4

nhưng không đạt đến mức huyễn tưởng nếu vắng tiếng hát như lời cầu kinh của những người Hồi giáo râm ran trên vòm trời với giọng nam trầm của ban nhạc A Filetta.  Và khi người ta tưởng là phim đã hết, không còn gì để thưởng thức thì bài hát đầy âm điệu ngọt ngào như nhạc Việt Nam, To be by Your Side, do giọng hát trầm ấm sung mãn của Nick Cave cất lên làm tăng cảm giác bàng hoàng, vừa xót xa vừa thán phục những cuộc di cư gian khổ mà lãng mạn của loài chim.  Bài hát mở đầu bằng những nốt rời, tiếng thánh thót của dương cầm, nghe như tiếng chuông hay tiếng khánh, có những câu như  vượt chục đại dương vượt trăm sông dài, bóng tối âm u rừng thẳm cây dày.  Hay.  Nhưng phải nói, đoạn thứ hai trong bài hát, với tiếng hồ cầm cò ke như tiếng kêu xé gió tuyệt vọng, tiếng đập cánh nhịp nhàng, tiếng gõ nhịp của dùi trống như tiếng tim đập thổn thức, tiếng thở hổn hển kiệt quệ của những con chim vượt biển mới làm tôi… muốn khóc.

Every mile and every year.  For every one a single tear.  Từng dặm xa và hằng năm qua. Cho mỗi chúng ta một giọt lệ nhòa.  Nick Cave hát thế nhưng khi không hiểu tại sao óc tôi cứ liên tưởng đến chữ fear thay vào chữ year  và cứ thế tôi nghĩ đến từng dặm trên biển cả một phần dân tộc đối diện với nỗi kinh hoàng của cái chết, cho mỗi vì sao rơi là một giọt lệ đắng nghét.  Có những con nhạn biển bay từ cực Nam đến cực Bắc vượt hằng chục ngàn dặm trên biển.  Tôi nhìn chúng mà nghĩ đến thân phận những người vượt biển trong đó có dân tộc Việt Nam đi tìm cuộc sống mới.  Khác với những con chim bay về xứ ấm để tìm cuộc sống thì chúng tôi lũ chim tách bầy bỏ đàn bay ngược về xứ lạnh để tìm một quê hương thứ hai.  Và trên đường thiên di có biết bao nhiêu con chim gãy cánh bỏ đường bay.

Người Việt Nam đã làm nhiều cuộc di cư.  Khởi đầu là cuộc Nam tiến trong lịch sử, rồi đến những cuộc di cư nhỏ từ sau năm 1945 phần lớn từ Bắc vào Nam .  Từ năm 1954 khi đất nước chia hai bên cạnh cuộc di cư ào ạt từ Bắc vào Nam có những cuộc di cư thầm lặng từ Nam ra Bắc.  Người Việt Nam thường hay nói.  Đất lành chim đậu nên khi đất không lành chim bay. Ta yêu chim không chỉ vì chim đẹp và trang điểm cho cuộc đời.  Chim còn là biểu tượng tự do của loài người.

Chim cũng như người, bỏ xứ ra đi với một mục đích, tìm đất sống. Và người cũng như chim trong mỗi cuộc di cư luôn ấp ủ một lời hứa hẹn.  Lời hứa sẽ trở về.

2 thoughts on “Những cánh chim di 2”

  1. Mến yêu những khảo luận của Bạn: Thiên nhiên hoang dã và tình con người.
    Cái cò mày đi ăn đêm
    Đỗ phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
    Khung cảnh những đàn cò chiều chiều bay về trên lũy tre làng, vài mẹ con cò mò tôm cá trên đồng bãi chỉ còn là hình ảnh xưa. Lũy tre thành tường gạch, đất chính phủ bán hết rôi.
    .
    Và người cũng như chim trong mỗi cuộc di cư luôn ấp ủ một lời hứa hẹn. Lời hứa sẽ trở về.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s