Thơ – Là gì?

Rất nhiều khi, tôi tự hỏi. Thơ là gì? Làm thế nào để biết đó là một bài thơ? Làm thế nào để biết đó là một bài thơ hay? Hỏi rồi cũng tự trả lời. Thơ hay – khi nào mình đọc thấy nó hay thì đó là một bài thơ hay.

Làm sao để nhận ra đó là một bài thơ. Tưởng dễ mà lại khó trả lời. Thật thà, vụng về, hay đơn giản đến không còn có thể đơn giản được nữa, thì có thể đáp liều rằng, cái gì mà không thuộc về văn, tiểu luận, phóng sự, luận đề, báo cáo, và vân vân thì mình gọi đó là thơ.

Tôi hỏi lẩn thẩn như thế là vì hôm nọ xem phim Paterson, nhân vật trong phim, có cùng tên với địa danh Paterson, đã làm thơ. Bài thơ đầu tiên trong cuốn phim nói về những que diêm:

We have plenty of matches in our house.
We keep them on hand always
Currently our favorite brand is Ohio Blue Tip.
Though we used to prefer Diamond brand.
That was before we discovered Ohio Blue Tip matches.

Chúng tôi có rất nhiều que diêm trong nhà
Chúng tôi giữ nó để tiện dùng
Ngay bây giờ chúng tôi thích dùng Ohio Blue Tip.
Dù trước kia chúng tôi thích hiệu Diamond hơn.
Đó là trước khi chúng tôi khám phá ra diêm quẹt hiệu Ohio Blue Tip.

Ngay lúc ấy tôi đã kêu lên thơ là như vậy sao. Sau đó tôi đọc wikipedia thấy mấy bài thơ trong cuốn phim là của nhà thơ Ron Padgett, giáo sư văn chương, học giả, dịch giả, được giải thưởng thơ. Mấy bài thơ này còn có vẻ phức tạp hơn mấy bài thơ của William Carlos Williams về cái xe cút kít màu đỏ và quả mận chín trong thùng nước đá. Thơ như vậy là thơ hay, hay sao? Tự hỏi như vậy nhưng chữ hay thì quả thật, mỗi người mỗi khác.

*Thơ là gì? William Wordsworth, nhà thơ của thế kỷ 19, định nghĩa thơ là “sự tuôn trào của cảm xúc mạnh.” Adrienne Rich, bảo rằng “bài thơ cũng như giấc mơ, bạn cho vào trong giấc mơ tất cả những thứ mà bạn không biết là bạn biết.” Javier Heraud, bảo rằng thơ là “bài ca của những người bị áp bức, bài ca mới của những người được giải phóng.”

Thi sĩ làm thơ viết thơ vì nhiều lý do nhưng nói chung họ cùng có một sức tưởng tượng được thể hiện qua ngôn ngữ và họ tin vào sức thuyết phục của chữ nghĩa. Emily Dickinson nghĩ về từ ngữ như sau:

A word is dead
When it is said,
Some say.
I say it just
Begin to live
That day.

(Tôi thử sắp xếp lại bài thơ như sau: “A word is dead, when it is said, some say. I say it just begin to live that day.” Bỗng dưng bài thơ chỉ còn là hai câu văn đơn giản. Một chữ sau khi nó được thốt ra là đã chết. Tôi cho rằng, chữ này thật ra bắt đầu cuộc sống của nó vào ngày hôm ấy.) 

Nhà thơ Anne Sexton, khoảng một trăm năm sau cũng viết một bài thơ từ ngữ như sau:

Words and eggs must be handled with care,
Once broken they are impossible
things to repair.

Chữ cũng như trứng, phải được nâng niu cẩn thận
Khi rạn vỡ chúng là những thứ
không thể hàn gắn được.

Mặc dù hầu như mỗi người có một định nghĩa về thơ và những định nghĩa này có khi trái ngược với nhau, một cách tổng quát, nhiều người đồng ý rằng, thơ bao gồm những thể hiện về tình cảm, ý nghĩa, và kinh nghiệm về cuộc đời và sự sống qua vần điệu (và không vần điệu), hình ảnh, cấu trúc, và trên tất cả là kết hợp của từ và ngữ.

*Từ phần này cho đến cuối bài tôi chép lại những định nghĩa trên trong quyển sách giáo khoa “Literature Across Cultures” trích đoạn “An Introduction to the Elements of Fiction, Poetry, and Drama.” do Sheena Gillespie, Terezinha Fonceca, và Carol Sanger biên soạn. Simon & Schuster Inc., @1994, p. 988.

Late Summer – Cuối hạ

Late Summer – Cuối hạ

In the gentle evening of the summer,
which is tired with the festival,
the water is clear
and the fish are at the bottom.

buổi chiều mùa hạ dịu dàng
đã mỏi mệt với hội hè
nước trong
cá lượn lờ dưới đáy

Holding left over wreaths
in their languid arms,
trees are
already dreaming

ôm những vòng nguyệt quế còn sót lại
trên cánh tay lười biếng
cây cối đang mơ màng

The last bird has flown by,
holding a black sound
in its beak

Con chim cuối cùng bay đi
ngậm tiếng kêu u tối
trong mỏ

Farewell, summer,
quicken your pace as you go …
stars fall quietly into the water …

Giã từ, mùa hạ
bước nhanh lên khi ra đi
Sao trời lặng lẽ rơi vào đáy nước

Tada Chimako – Nguyễn thị Hải Hà dịch

hai người lớn và ba trẻ em
Hoa rừng trông giống như một gia đình với hai người lớn và ba trẻ em 
sưởi nắng
Rắn nằm sưởi nắng cạnh đường mòn nấp dưới lá
nấm to
Một cái nấm thật to 
berries trong nắng sớm
Blue berries mọc hoang chín rụng đầy 

Con đom đóm

Đây chỉ là vài trang trích đoạn truyện ngắn “Firefly” (Con Đom Đóm) trong tuyển tập truyện ngắn “Blind Willow, Sleeping Woman” của Haruki Murakami. Truyện của Murakami thì rất có thể là đã được dịch ra đăng lên ở đâu đó từ lâu rồi, bởi một dịch giả nổi tiếng nào đó. Tuy nhiên, tôi đang đọc một số truyện thơ về mùa hạ, và trong mùa hạ thì có đom đóm. Và thơ văn về đom đóm ở Hoa Kỳ này có khá nhiều. Sẵn gặp thì tôi dịch, mời bạn đọc chơi. Giải trí.

be1bb93n-nc6b0e1bb9bc-vc3a0-sic3aau-trc483ng

Trong truyện, ông Murakami có nhắc đến cái tháp nước. Tôi tưởng tượng cái tháp nước ở Nhật đẹp hơn mới hơn, nhưng chắc cũng giống na ná như cái tháp nước này. Có thể nó tròn hơn, sơn màu xanh hay màu trắng. Nhưng đại khái là nó có thang để leo lên và nó khá cao. Đây là cái tháp nước gần trạm xe lửa tôi đi mỗi ngày, không biết có còn dùng không. Đăng ảnh để minh họa, tiếc là tôi không chụp được ảnh đom đóm. Dưới đây là truyện Con Đom Đóm của Haruki Murakami.

@ @ @

Vào cuối tháng, người bạn ở chung phòng nội trú cho tôi một con đom đóm trong cái lọ chứa cà phê. Bên trong lọ có cọng cỏ và chút nước. Hắn đục vài cái lỗ nhỏ trên nắp lọ. Bên ngoài trời vẫn còn ánh sáng nên trông đom đóm chẳng khác gì một con bọ đen bạn có thể thấy trên bờ biển. Tôi ghé mắt nhìn vào lọ và biết đó chính là con đom đóm. Nó cố bò lên thành lọ thủy tinh trơn bóng, mỗi lần leo lên đều bị tuột xuống. Đã lâu lắm rồi tôi mới lại được nhìn tận mắt con đom đóm.

“Tôi thấy nó ở ngoài sân,” bạn chung phòng của tôi nói. “Cái khách sạn ở cuối đường thả một bầy đom đóm để được sự chú ý của mọi người, và có lẽ nó đã bay lạc đến đây.” Hắn vừa nói vừa nhồi nhét quần áo và tập vở vào trong cái va li nhỏ. Chúng tôi chuẩn bị nghỉ hè một vài tuần. Tôi thì không muốn về nhà còn hắn thì bận một số việc bên ngoài trường, vì thế hai chúng tôi là những người còn sót lại trong nội trú. Công việc xong, hắn sẵn sàng về nhà.

“Sao bạn không tặng con đom đóm cho một cô nào đó?” hắn hỏi. “Các cô thích mấy thứ này lắm.”

“Cám ơn bạn, ý kiến rất hay,” tôi nói.

@ @ @

Sau khi mặt trời lặn, nội trú trở nên im lìm. Cờ đã hạ xuống và đèn được thắp sáng ở các cửa sổ của căng tin. Chỉ một số ít học sinh còn ở lại, vì thế chỉ có một nửa số có đèn. Bên phải của căng tin đèn bị tắt đi chỉ có đèn bên trái được mở. Bạn có thể ngửi thấy mùi thức ăn thoang thoảng bay ra từ căng tin.

Tôi mang lọ cà phê có chứa con đom đóm lên mái nhà. Chung quanh rất vắng vẻ. Một cái áo sơ mi trắng ai đó bỏ quên trên dây phơi, phất phơ trong gió như một miếng da bị bong ra. Tôi leo cái thang rỉ sét ở một góc nhà lên tận điểm cao nhất của cái tháp nước. Cái tháp nước hình trụ vẫn còn ấm áp vì hấp thụ hơi nóng mặt trời lúc ban ngày. Tôi ngồi xuống trong một góc chật hẹp, dựa vào hàng rào và nhìn xuống mặt trăng ở phía trước mặt tôi, chỉ còn một hay hai ngày là sẽ trở nên tròn đầy. Ở bên phải, tôi có thể nhìn thấy đường phố của Shinjuku, bên trái là Ikebukuro. Đèn ô tô tạo thành một dòng ánh sáng, rực rỡ chảy từ bên này thành phố sang bên kia. Như đám mây trôi lơ lửng trên đường phố, tiếng động trong thành phố là tổng hợp của âm thanh, như một tiếng ngân nga dịu dàng.

Con đom đóm nhấp nháy ở đáy lọ nhưng ánh sáng của nó yếu ớt, và màu sắc mờ nhạt quá. Trong trí nhớ của tôi, đom đóm phát ra một ánh sáng khá mạnh, có thể xuyên qua bóng tối của đêm hè. Con đom đóm này tỏa ánh sáng yếu ớt quá, có thể là nó sắp chết. Tôi đoán thế. Cầm cái miệng lọ, tôi lắc vài lần, để nhìn. Đom đóm cất cánh bay lên một đôi lần, va vào thành thủy tinh. Nhưng ánh sáng của nó vẫn mờ nhạt.

Có thể vấn đề không phải là ánh sáng của nó, mà là trí nhớ của tôi. Có lẽ đom đóm không có ánh sáng rực rỡ. Có lẽ nó chỉ sáng trong óc tưởng tượng của tôi. Hoặc là, khi tôi còn bé, bóng tối chung quanh tôi dày đặc hơn. Tôi không thể nhớ nổi. Tôi không còn nhớ lần cuối cùng tôi được nhìn một con đom đóm là từ lúc nào.

Điều tôi có thể nhớ là tiếng nước chảy trong đêm. Cái cổng tháo nước cũ kỹ, có quả nắm bạn có thể xoay vòng để mở ra hay đóng lại. Một dòng suối  nhỏ, với cây cỏ mọc trên mặt nước. Chung quanh trời tối đen, và hằng nghìn con đom đóm bay lượn trên mặt nước yên tĩnh. Một chùm ánh sáng màu vàng như bụi phấn chiếu sáng cả mặt suối, và phản chiếu xuống dòng nước.

Bao giờ đấy nhỉ?  Và ở đâu chứ?

Tôi không biết.

Tất cả mọi thứ trở nên lẫn lộn.

Tôi nhắm mắt, hít thở mấy hơi dài để tự trấn tĩnh. Nếu tôi tiếp tục nhắm đôi mắt, không chừng thân thể của tôi sẽ bị cuốn hút vào trong bóng tối của đêm hè. Đây là lần đầu tiên tôi leo lên tháp nước vào buổi tối. Tiếng gió thổi nghe rõ ràng hơn bao giờ. Gió không mạnh, tuy nhiên nó để lại ấn tượng khi thổi ngang người tôi. Rất từ tốn, bóng đêm bao trùm quả đất. Ánh đèn của thành phố có thể rực rỡ nhất, nhưng dần dà và rất chậm rãi, bóng đêm luôn luôn là kẻ chiến thắng.

Tôi mở nắp lọ, thò tay bắt con đom đóm ra ngoài, đặt nó lên cái mé thềm của tháp chứa nước, mảnh kim loại dư ra ngoài chừng bốn hay năm phân. Dường như con đom đóm ngù ngờ không biết mình đang ở đâu. Sau khi bay loạng choạng va vào cái đinh ốc, nó duỗi một chân lên trên một mảnh sơn bị tróc. Nó cố tìm cách đi về bên phải nhưng bị cùng đường nên quay sang bên trái. Nó chậm chạp leo lên trên cái đầu của đinh ốc, nằm rất lâu, có vẻ chết nhiều hơn là sống. Dựa vào hàng rào, tôi nhìn đăm đăm con đom đóm. Rất lâu, cả hai chúng tôi cùng ngồi đó, bất động. Chỉ có gió, như một dòng suối, lướt qua chúng tôi. Trong bóng tối, hằng ngàn chiếc lá Zelkova rì rào, cọ xát với nhau.

@ @ @

Tôi chờ đến vô tận.

@ @ @

Một thời gian rất lâu, sau đó, đom đóm cất cánh bay đi. Như thể sực nhớ ra một chuyện gì đó, thình lình nó xòe cánh và một chốc sau bập bềnh đến trên hàng rào và thoát vào bóng tối. Có lẽ cố lấy lại thời gian đã mất, rất nhanh chóng nó vẽ một vòng cung ánh sáng bên cạnh tháp nước. Nó ngừng lại một vài giây, đủ để lằn ánh sáng bắt đầu nhòe đi rồi bay về hướng Đông.

Mãi rất lâu sau khi con đom đóm mất dạng, dấu ánh sáng của nó còn đọng mãi trong tôi. Bên trong cái bóng tối dày đặc phía sau đôi mắt nhắm của tôi, cái ánh sáng mờ nhạt ấy, giống như một linh hồn thất lạc nào đó, tiếp tục bay lang thang.

Một lần rồi thêm một lần nữa, tôi xòe bàn tay ra hướng về bóng tối. Nhưng ngón tay tôi không cảm thấy gì cả. Và đốm sáng ngời nhỏ bé ấy luôn luôn nằm ngoài tầm với của tôi.

 

Nước mắt

Xin lỗi nha quý bạn. Thật ra tôi muốn đặt cái tựa đề khá dài. Những giọt nước mắt của người phụ nữ trẻ đồng hành trên xe lửa. Cắt ngắn lại chỉ còn hai chữ sợ các bạn quan tâm và tự hỏi không biết chuyện gì mà sáng sớm đã thấy nước mắt rồi.

Cùng đi chuyến xe lửa buổi sáng với tôi (6:36 am) có một người phụ nữ người da trắng, khoảng hơn ba mươi gần bốn mươi. Nàng lên xe trước tôi, chẳng biết trạm nào, lên xe là đã thấy nàng. Ngồi bên cửa sổ. Nàng có vài điểm đặc biệt làm tôi chú ý.

Thứ nhất là nàng xách hành lý cồng kềnh; có lẽ là máy tính và một số đồ phụ tùng. Đồ đạc của nàng chiếm cái ghế bên cạnh. Nàng ngồi cạnh cửa sổ. Đồ đạc để bên cạnh. Ghế trống nhưng không ai có thể ngồi vì không có chỗ để chân.  Điều này rất chướng nên có nhiều người không vui. Buổi sáng khi xe lửa vào gần đến thành phố rất đông đúc chật chội, ai cũng muốn có chỗ ngồi.

Thứ hai là khi vào gần đến thành phố, nàng luôn luôn dùng máy ảnh chụp một cái gì đó, ở một chỗ nhất định.

Nàng có khuôn mặt khả ái, tóc hơi xoăn, màu da trắng. Người hơi phục phịch nặng nề nhất là với mớ hành lý bề bộn của nàng, xoay trở trên xe lửa khá chậm chạp. Điểm đặc biệt của người làm việc ở thành phố, nhất là New York, là họ luôn luôn vội vàng, gấp rút, chưa đi đã chuẩn bị chạy. Do đó họ có thể (dường như) bước càn lên người mình, đạp mình bẹp dí bất cứ lúc nào.

Những người đàn ông, và cả đàn bà nữa, nếu chen lấn, không nhường bước cho nàng thì nàng quắc mắt, đưa tay ra cản đường, phải để cho nàng đi theo đúng thứ tự người nào ở vị trí phía trước thì ra trước. Thỉnh thoảng những người hành khách bị nàng tỏ ý mắng khéo đưa mắt nhìn nhau với vẻ bực dọc, nhưng nàng bất cần. Sẵn sàng lên giọng tự bảo vệ mình chứ không nhường nhịn nép qua một bên như tôi.

Ấy, vậy mà nàng bênh vực tôi. Khi thấy một số chàng trai trẻ không nhìn thấy tôi, (già cả, thấp bé, da màu, tôi trở nên vô hình trong mắt những vị thần da trắng trẻ tuổi) không nhường bước cho tôi, nàng đưa tay ra cản đường. Bảo rằng, phải để bà ấy ra trước.

Tôi có cảm tình với nàng. Thỉnh thoảng chúng tôi đi thang máy chung với nhau. Nàng nói nàng có thai, làm cho đến ngày thứ sáu cuối cùng của tháng Bảy là sẽ nghỉ để đi sinh con. Tôi hỏi nàng sẽ nghỉ làm bao lâu, nàng nói có lẽ ba tháng hay hơn.

Ngày thứ Sáu vừa qua đi xe lửa chung. Lúc chờ thang máy tôi thấy nàng chảy nước mắt, giọt ngắn giọt dài. Khi thấy ánh nhìn dò hỏi của tôi nàng nói, nàng buồn, nhiều cảm xúc vì đây là ngày làm việc cuối cùng của nàng trước khi đi sinh con. Tôi nói những lời chúc lành và hy vọng sớm gặp nàng trở lại. Nhưng phụ nữ đi làm việc, sau khi sinh sản, không phải ai cũng có cơ hội tốt để trở lại với công việc mình đã làm trước khi sinh. Có khi phải đổi việc, đổi chỗ, đổi giờ làm cho phù hợp với cuộc sống và thời biểu của mình khi có con nhỏ. Rất có thể chúng tôi sẽ không gặp lại nhau. Xe lửa sáng thứ Hai vắng nàng, và có thêm hai ghế trống. Hình như chẳng ai để ý đến sự vắng mặt của nàng. Ngoài tôi.

Cuộc sống đơn giản chung quanh

dâm bụt sau vườn
Hoa dâm bụt (hibiscus) sau nhà

Chung quanh nhà tôi có mấy cây hoa dâm bụt (hibiscus) cùng họ với hoa lồng đèn màu đỏ ở Việt Nam. Mấy cây này mọc hoang và rất mau lớn. Mùa hè chúng xuất hiện hầu như khắp nơi. Năm nay dường như trổ hoa nhiều hơn mấy năm trước.

chú chó 26 tuổi
Một chú (hay cô) chó ngồi xe đẩy của em bé

Đang đi rừng, ở bắt đầu vào trail tôi gặp một chú chó được ngồi xe đẩy, loại xe dành cho em bé. Đã đi qua rồi tôi quay lại xin phép hai người chủ được chụp ảnh chú chó này. Được hai ông bà cho biết chú chó này đã là ông lão (hay bà lão, họ có nói nhưng tôi quên mất) vì đã 16 tuổi. Nghe nói tuổi thọ của chó chỉ chừng 13 năm. Nếu tính ra tuổi chó chắc chú chó già này đã hơn trăm tuổi.

dâu rừng đang chín
dâu trong rừng đang mùa chín tới

Dâu chín tràn lan nhưng không thấy chim rừng ăn. Đi gặp nai nhưng ở gần đường mòn, nai còn sợ người ít khi đến.

Đường hiking trail trở nên nhỏ hẹp
lối đi rất hẹp

Mùa này cây mọc lấn ra đường nên lối đi trở nên nhỏ hẹp.

Một cái nấm to
một cái nấm rất to

Ở ngay trên bãi cỏ, nơi năm ngoái tôi gặp một đám nấm màu vàng, năm nay mọc lên ba cái nấm, khá to, đường kính bằng nửa chiều dài chai nước. Trên đường đi tôi gặp rất nhiều nấm. Có cả một bãi nấm màu đỏ tai nấm cở chừng bằng một lóng tay. Không tiện chụp ảnh, chụp hoài sợ ông chồng đổ quạu.

nấm màu nâu sậm
cái nấm màu gần như đen

Nấm mọc rất nhiều gần đường đi, thường hay gần gốc cây. Cứ dăm ba phút là gặp nấm. Tôi nghĩ nếu đi sâu vào trong rừng, nơi ít người lui tới chắc sẽ gặp nhiều nấm to hơn nữa.

ong đậu thistle
con ong đậu trên hoa thistle

Thistle, gai tua tủa, màu tím rất đẹp, có hương thơm. Cứ thấy ong say mê là biết nó có mùi hương và có thể có vị ngọt.

với ông bà chủ
Ông bà chủ và con chó ngồi xe em bé

Ông bà chủ của con chó 16 tuổi. Tôi xin phép chụp ảnh ông bà, hai người vui vẻ đồng ý. Tôi nghĩ đến bài thơ của ông Lưu Hiểu Ba về con chó của ông bị chết trong chiến dịch diệt chó lúc ông còn bé (hình như tám hay chín tuổi). Một vết thương lòng. Tôi nghĩ ông căm ghét cái chế độ mà ông lớn lên trong đó cũng là điều tất nhiên.

Xem phim Paterson

Tối qua tôi xem phim Paterson. Sẵn vẫn còn đang nhớ nhiều chi tiết nên tôi viết vài dòng. Đây là một phim rất thú vị, tuy nhiên trước khi tôi đưa ra vài lý do vì sao tôi thích phim này tôi khuyên bạn đừng xem nếu sở thích của bạn chỉ dành cho loại phim chiến đấu gay cấn, hay ái tình nóng bỏng.

Phim này thú vị vì nó được quay ở Paterson (thuộc New Jersey là tiểu bang “của tôi”) và nói về người sống ở Paterson. Paterson là một thành phố tương đối nhỏ so với Newark, nhưng lớn hơn Green Brook. Newark là thành phố lớn nhất của New Jersey còn Green Brook là  vùng ngoại ô nơi tôi đang ở. Paterson có dân số khá đông, khoảng một trăm mấy chục ngàn người. Dân ở Paterson thường là dân làm việc ở New York, đa số là dân lao động, với rất nhiều người di dân Ấn Độ, Hispanic, Pakistan. Trước kia đây là một thành phố kỹ nghệ rất thịnh vượng có nhiều nhà máy dệt lụa. Thành phố Paterson mang tên vị Thống Đốc New Jersey, William Paterson, người đã ký tên vào bản Hiến Pháp Hoa Kỳ.

Paterson cũng là tên của nhân vật chính, tài xế lái xe buýt cho New Jersey Transit . Một trong những cái làm tôi thú vị là thấy xe buýt của công ty tôi đang làm việc được đóng phim. Thấy bộ quần áo công nhân có gắn phù hiệu công ty. Thấy cái garage xe buýt chạy ra chạy vào. Paterson thích làm thơ. Chàng có một quyển sổ để chép thơ. Chàng luôn luôn khuyến khích và khen ngợi những người làm thơ chàng gặp trên đường làm việc ban ngày hay dẫn chó của vợ đi bộ ban đêm.

Bạn sẽ thích phim này nếu bạn làm thơ, hay dịch thơ vì phim này nói về thơ và người làm thơ. Thành phố Paterson là gốc gác của nhiều nhà thơ nổi tiếng. Thí dụ như Allen Ginsburg và William Carlos Williams.

William Carlos Williams có nghề chính là Bác sĩ. Ngày ông còn sống ông không mấy nổi danh về thơ nhưng nổi tiếng nhiều đào và phản bội vợ. Thơ của ông chuyên lấy chủ đề về cuộc sống giản dị hằng ngày, về những thứ mà chúng ta hay xem thường, không nhìn thấy chất thơ của chúng. Thí dụ như chiếc xe cút kít màu đỏ, bóng loáng vì cơn mưa, bên cạnh con gà màu trắng. Thí dụ như tác giả mở cái hộp chứa nước đá và khám phá mấy trái mận tím được dấu trong đó. Kềm lòng không được, ông ăn mấy trái mận (có lẽ được để dành cho bữa ăn sáng) thấy nó ngon quá và mát quá.

Nhân vật Paterson cũng vậy. Chàng tìm thấy chất thơ trong mấy cái bao diêm có chữ bên ngoài, và trong tình yêu vợ. Vợ chàng cứ thúc giục chàng hãy làm bản copy, và xuất bản để người đời được đọc những bài thơ tuyệt vời của chàng. Cũng như bao nhiêu người làm thơ khác chàng không mấy tin tưởng vào tài nghệ thơ phú của chàng. Thơ làm ra chàng chép vào cuốn sổ. Cho đến một ngày, Marvin, con chó của vợ cắn xé tan nát quyển sổ chép thơ của chàng.

Câu chuyện xảy ra chỉ trong vòng một tuần. Phần lớn các bạn có lẽ sẽ thấy cuốn phim này rất chán vì ngày nào cũng xảy ra ngần ấy chuyện. Chàng Paterson thức dậy, hôn vợ, ăn sáng bằng Cheerios, đi làm, nghe anh sếp than thở chuyện nhà, tối về dắt chó đi dạo, ghé vào cái bar nghe ông chủ quán bar nói chuyện đời, gặp những người trong thành phố nhỏ. Tuy nhiên thành phố nhỏ cũng có một vài bi kịch và rất nhiều hài kịch xảy ra hằng ngày. Paterson, nhà thơ của chúng ta lặng lẽ quan sát ghi nhận, viết lại thành những dòng thơ.

Đoạn thú vị nhất là đoạn cuối phim. Paterson buồn vì bị con chó xé mất tập thơ ra công viên ngồi ngắm cái thác Great Falls cho đỡ buồn. Chàng gặp một thi sĩ Nhật Bản. Ông này đến Paterson để viếng quê hương của nhà thơ William Carlos Williams người mà ông ta rất ngưỡng mộ. Paterson không thú nhận mình làm thơ chỉ nói mình là tài xế lái xe bus. Nhưng khi nhà thơ Nhật nói về thơ thì ông ta ngạc nhiên lẫn thú vị về sự hiểu biết về thơ của Paterson. Trước khi chia tay ông tặng Paterson một quyển sổ còn trống không. Loại sổ để người ta chép thơ. Ông nói: “Đôi khi, trang giấy trống thể hiện cho những điều rất có thể sẽ xảy ra.” Nhà thơ Nhật này chỉ làm thơ bằng tiếng Nhật và ông không mấy thích chuyện dịch thơ ra tiếng nước khác. Ông bảo rằng “Đọc thơ dịch cũng giống như đi tắm mà mặc áo mưa bên ngoài vậy.”

Và ngay sau đó chàng mở quyển sổ lấy cây bút trong túi ra chép viết một bài thơ khác.

Thật là một cuốn phim tuyệt vời về những điều rất bình thường trong cuộc sống. Và sau đây là một số hình ảnh ở Paterson.

the Great Falls
Thác nước ở Paterson. The Great Falls, nơi nhân vật Paterson hằng ngày ngồi thư giản ngắm thác và làm thơ.
Thác nước
Tôi chộp được ảnh này cũng chẳng khác ảnh trong phim mấy. Hình như đây là chỗ tốt nhất để nhìn thấy thác
red cottage
Một ngôi nhà nhỏ gần thác
Đợi chờ
Công viên, nơi này nhân vật Paterson đi và về trong công việc lái xe
115
Một bờ tường vào mùa thu. Phim được quay trong vòng ba mươi ngày vào mùa thu
chiếc xe buýt ở Paterson
Và đây là loại xe buýt nhân vật Paterson đã đưa đón hành khách ở Paterson.

Đom đóm

Nghe nói ở bên mình bây giờ ít khi nhìn thấy đom đóm, như thể chúng đã bị tuyệt chủng. Người ta tổ chức những cuộc du lịch sang Mã Lai để được xem đom đóm. Năm nay chỗ tôi ở không nhìn thấy đom đóm nhiều như năm trước hay năm trước nữa. Không nhiều nhưng vẫn xuất hiện. Bao giờ cũng loáng thoáng dưới bụi trúc hay đâu đó phía sau rừng, bên cạnh mấy cây dâm bụt hoa tím. Có thể vì tôi đi ngủ sớm nên không nhìn ra ngoài nhà trong đêm. Có thể vì tôi không thức giấc nửa đêm. Cũng có thể, đom đóm như những nàng tiên bé, đi chơi chỗ khác. Không hiểu sao, đom đóm luôn mang cảm giác vui nhẹ nhàng, có chút gì lãng mạn trong không khí. Làm người ta nghĩ đến chuyện thần tiên. “Đêm thơm như một dòng sữa,” hay “đêm vỗ về nuôi nấng, đêm trao ngọt ngào hương phấn.” Ngay cả chữ rêu cũng gợi lên một cảm giác đẹp, êm ái. Làm tôi nhớ câu thơ “Như chân chim muôn thuở. In mãi bậc thềm rêu.” (Thơ Phạm Thiên Thư.)

Tôi đọc tập truyện ngắn “Beauty and Sadness” của Yasunari Kawabata, tiếng là truyện ngắn, nhưng tất cả những truyện ngắn này có liên hệ với nhau, tạo thành một truyện vừa. Phần trích đoạn được trích từ truyện ngắn có tên “A Stone Garden.” Otoko, một nữ họa sĩ mai danh ẩn tích, và Keiko một cô đồ đệ trẻ và rất đẹp. Otoko không trẻ bằng nhưng có lẽ cũng là người đẹp. Hai người đến viếng một vườn trong một chùa thiền nổi tiếng ở Kyoto, Saiho-ji, còn gọi là vườn rêu (Moss Garden). Vườn này vốn là vườn được thiết kế toàn bằng đá, nhưng khí hậu ẩm làm rêu mọc lên đá. Cả vườn được bao trùm bằng một lớp rêu mịn.

Keiko mang tất cả những họa phẩm của nàng đến cho một họa sĩ tài danh, Oki, xem. Câu chuyện khai mở dần. Keiko và Otoko là đôi tình nhân. Keiko ngủ với ông họa sĩ (chừng hơn 50 tuổi) với ý muốn trả thù cho Otoko vì Otoko đã từng là người tình của ông Oki (ông có vợ). Keiko tỏ ý muốn mang thai với Oki khi Otoko thổ lộ là bà có con với Oki. Otoko tát Keiko. Cô gái trẻ giận dỗi và sau đó là đoạn văn này. Tôi dịch bạn đọc chơi vì nó có liên quan đến đom đóm.

“Keiko-” Otoko bước ra hàng hiên và đá mạnh cái lồng chứa đom đóm[i] văng vào trong vườn, dù chân của nàng không mang giày.

Tất cả đom đóm trong lồng dường như sáng ngời lên ngay lập tức. Một dòng ánh sáng trắng có nhuốm màu xanh chảy ra khỏi lồng rồi đáp nhẹ nhàng lên một vạt đất đóng rêu. Bầu trời đầy mây, và hơi ẩm của hoàng hôn bắt đầu lan tỏa nhẹ nhàng trong vườn làm cảnh vật trở nên mù mờ lunh linh, nhưng ngày của mùa hạ thường rất dài nên vẫn còn ánh sáng. Chừng như đàn đom đóm không thể nào chiếu sáng rực rỡ như thế, hay có lẽ, dòng ánh sáng chảy ra khỏi cái lồng chỉ là sự tưởng tượng của nàng, hoặc, dòng ánh sáng ấy chính là tình cảm trong lòng nàng kết tụ thành. Nàng đứng sững sờ và nhìn không chớp cái lồng đom đóm đang nằm nghiêng trên mặt thảm rêu.

Trích truyện ngắn “A Stone Garden” (Vườn Đá) trong tập “Beauty and Sadness” (Nhan sắc và Nỗi Buồn) của Yasunari Kawabata.

[i] Ở Nhật Bản, thời của Yasunari Kawabata (1899 – 1972), trong  vườn có lồng bắt chứa đom đóm. Trong truyện ngắn này, vườn ở đây là một công viên lớn thuộc về phần chùa Saihoji còn gọi là Moss Garden. Tôi không biết bây giờ có còn lồng chứa đom đóm hay không. Tôi cũng không biết lồng chứa đom đóm chỉ để trang trí hay có nhiệm vụ gì khác hay không, thí dụ như thay thế đèn (?) hay người ta không thích đom đóm bay khắp nơi trong vườn, trong nhà.