Nghe đọc Tuổi Thơ Em Thả Trên Đồng

Xin mời các bạn nghe giọng đọc của Kim Oanh tự truyện đầu tay của tôi. Như mối tình đầu, tôi nhớ truyện này suốt đời. Cám ơn tất cả các bạn đã góp phần làm nên truyện này. Cảm ơn tác giả cái ảnh có em bé thả diều. Giọng Kim Oanh rất hợp mỗi khi giả giọng trẻ con, nũng nịu, nghe thật là đáng yêu.

Nghe đọc Mở Nắp Hầm của Nguyễn thị Hải Hà

Xin trân trọng cảm ơn hai người bạn trên Facebook Tám Tình TangKim Oanh đã nhìn thì giờ đọc hai truyện ngắn của tôi. Hai bạn này cũng đã đọc một truyện ngắn khác của tôi trước đây. Truyện Tình Bi Đông Có List thì Dông. Hai bạn làm tôi cảm động quá biết lấy gì đền đáp công của các bạn đây. Truyện này đã đăng ở Gió O.

Mời bạn nghe nhen. Giọng Kim Oanh nghe “đã” lắm. Nàng nói giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam, rất diễn tả. Làm tôi thấy, té ra truyện tôi viết nghe cũng được lắm.🙂 Cám ơn Kim Oanh đã truyền sức sống và sự truyền cảm vào truyện. Lại còn đoạn nhạc Biển Nhớ nữa, làm cảm động quá trời luôn.

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaMoNapHam.htm

Vẫn bước – Still Walking

Nếu cuối tuần muốn tìm xem một phim nhẹ nhàng để giải trí, bạn sẽ không thích phim này, “Still Walking” xin tạm dịch là Vẫn Bước. Những phim về xung đột trong gia đình vẫn làm tôi ngại ngần không muốn xem vì cái không khí nặng nề của nó. Gia đình nào mà chẳng có xung đột, ngấm ngầm hay lộ liễu, vì thế chẳng ai thấy dễ chịu khi sống lại những giây phút không êm đẹp nhưng quen thuộc với mình. Người Mỹ làm nhiều phim loại này. Họ thể hiện sự xung đột trong gia đình một cách khôi hài để làm giảm bớt không khí nặng trĩu của những cuộc cãi nhau, hằn học ngấm ngầm với nhau. Thoáng qua trong ý nghĩ tôi là phim “Death at a Funeral,” “The Royal Tenebaums,” còn nhiều nhưng bất thình lình không nhớ ra.

Tựa đề “Still Walking” được trích từ một bài hát Nhật thịnh hành vào cuối thập niên 60. Và cuốn phim này cũng lấy bối cảnh xã hội Nhật-bản vào thời gian này. Câu chuyện xoay quanh gia đình của bà Toshiko Yokoyama (diễn viên Kirin Kiki) trong ngày giỗ đứa con trai cả của bà qua đời vì chết đuối trong khi cứu người. Tôi chú ý đến nữ diễn viên này vì hình dáng của bà, tóc bạc muối tiêu, mặt không son phấn, dáng đi lệt bệt nặng nề, nhan sắc tầm thường. Đạo diễn Hirokazu Kore-eda chọn bà vì ông thấy ngoài bà ra không ai có thể diễn được vai này. Kore-eda sáng tạo nhân vật này dựa vào bà mẹ của ông. Phim này được viết sau khi bà mẹ của Kore-eda qua đời, là một cách để đạo diễn tạ từ người mẹ lần cuối cùng.

Xung đột trong “Still Walking” nhẹ nhàng hơn phim “August: Osage County” không có những cuộc đấu khẩu phẫn nộ la hét, nhưng đầy những đay nghiến nhức nhối ngấm ngầm. Ông bố là bác sĩ, tuy đã về hưu nhưng vẫn muốn được gọi là Doctor, thậm chí không muốn người ta nhìn thấy mình đi chợ giúp vợ. Ông bà có hai con trai và một con gái. Đứa con trai lớn Junpei, học làm Bác sĩ nối nghiệp và là nguồn hãnh diện của bố, chết đuối từ mười lăm năm trước. Đứa con trai kế Ryota Yokoyama là con chiên ghẻ của gia đình. Không làm bác sĩ mà lại đi học hội họa, đang làm nghề bảo tồn tranh thì bị thất nghiệp. Ryo còn phạm một taboo khác của xã hội Nhật vẫn còn bảo thủ vào những năm 60, là anh cưới một người đàn bà góa chồng có đứa con trai riêng. Cô con gái có chồng được hai con, muốn dọn về ở chung với bố mẹ. Điều đó có nghĩa là cô sẽ lấy căn phòng của Ryo, và với xã hội Nhật, bố mẹ già thường ở chung với con trai chứ không ở với con gái.

Bạn có thể đoán được cảm giác bất an của tất cả mọi người trong buổi giỗ. Ryo thì ở trong tình trạng mình là người thất bại không đạt được nguyện vọng của bố. Như cha mẹ Việt Nam hay than thở “hòn vàng thì mất, hòn đất thì còn” Ryo thầm nghĩ rằng ông bố đã tiếc rằng người chết là Junpei. Điều này làm tôi nhớ đến một đoạn trong phim “Lord of the Rings,” Denethor có hai người con là Doromir và Faramir. Doromir chết trong lúc đi tìm chiếc nhẫn chúa cho bố và Faramir luôn nghĩ rằng Denethor tiếc là người chết là Doromir chứ không phải Faramir. Tôi tin rằng tất cả các bậc cha mẹ đều cố gắng yêu thương con đồng đều, nhưng sự thật là có khi cán cân tình yêu của cha mẹ bị nhìn thấy nghiêng về người này nhiều hơn người khác. Ryo cũng sợ là bố mẹ sẽ không tiếp đãi ân cần vợ mình và con trai (của vợ).

Ông bố, Kyohei, nếu không gắt gỏng cáu kỉnh, thì cũng lạnh nhạt lơ đãng. Ông thường dấu mình trong văn phòng riêng của ông, chỉ xuất hiện khi đến bữa ăn. Bà mẹ, Toshiko thì đầm ấm hơn, luôn luôn lăng xăng lo nấu các món ăn khoái khẩu của cả nhà. Tuy nhiên, câu truyện khai mở dần dần người xem sẽ thấy bà mang trong lòng một nỗi đắng cay lâu dài. Nỗi đau này biến thành một thứ chất độc, tràn ra khỏi lòng bà vấy vào người chung quanh.

Nói lén với con gái, chuyện Ryota lấy người đàn bà đã có con, Toshiko nói dẫu sao lấy một người đàn bà ly dị vẫn tốt hơn người đàn bà góa chồng. Vì người đàn bà ấy tự nguyện bỏ chồng. Cô con gái nghe bà mẹ nói thế cũng kinh ngạc bảo rằng. Nhiều khi mẹ thật là độc ác. Mãi về sau tôi mới hiểu câu nói của bà. Người đàn bà bỏ chồng “có thể” không còn yêu thương vương vấn người chồng cũ nữa. Tuy nhiên, nó hàm ý trường hợp của bà. Nhiều khi người ta sống suốt đời với chồng (hay vợ) nhưng tình yêu không còn, không ly dị có thể vì không dám, không dám sống một mình, không dám nuôi con một mình, không dám đi ngược lại dư luận, và hằng trăm thứ khác.

Trong bữa ăn, mọi người bàn đến âm nhạc. Ông bác sĩ luôn luôn coi thường bà vợ nội trợ là người không biết yêu và thưởng thức nhạc. Bà nói bản nhạc bà rất yêu thích là bài Blue Light Yokohama. Bà bảo Ryo đặt đĩa lên máy hát, và khi âm điệu ngọt ngào lãng mạn của bản nhạc tràn đầy căn phòng, bà nghiêng đầu lẩm nhẩm hát theo.

“Aruitemo aruitemo kobune no you ni
Watashi wa yurete yurete anata no ude no naka”

“I walk and walk, swaying
Like a small boat in your arms”

Bạn có thể hình dung hai người đang khiêu vũ với nhau.

“Em bước và bước, đong đưa
như chiếc thuyền con trong vòng tay anh”

Khi bữa ăn tàn, ông chồng bác sĩ vào ngâm mình trong bồn tắm, bà vào phòng tắm mang đồ dùng cho ông, và thổ lộ, khi ông hẹn hò với tình nhân, bà đến nhà, biết ông và tình nhân đang khiêu vũ, bà nghe ông hát vang những câu trong bài hát, bà ôm con lẳng lặng về nhà.

Phim còn có những giây phút khác rất hay, như lúc cậu bé Atsushi con riêng của Yukari (vợ của Ryota) nhìn con bướm và nói những lời tâm sự với người bố ruột đã qua đời. Và lúc bà mẹ Toshiko công nhận là bà mời cậu bé mà Junpei cứu mười lăm năm trước đến dự đám giỗ của Junpei hằng năm vì bà muốn trừng phạt anh ta, vì anh ta mà con trai bà chết đuối.

Người ta cũng thường so sánh Hirikazu Kore-eda với Yasujiro Ozu đạo diễn Nhật nổi tiếng với những phim tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Phim đầu tiên người ta có thể nghĩ đến của Ozu là Tokyo Story. Tôi thì nghĩ đến Late Spring của Ozu. Cũng là tình gia đình nhưng Late Spring dịu dàng và ngọt ngào trong khi Still Walking quặn thắt và cay đắng. Về mỹ thuật thì phim của Ozu có khuynh hướng mỹ thuật của Zen, thanh đạm và đơn giản, trong khi phim của Kore-eda gần với cuộc sống hiện thực.

Đây là phim đầu tiên của Kore-eda tôi được xem. Ngạc nhiên thấy thư viện địa phương của tôi có chừng năm hay sáu phim của đạo diễn này. Chắc chắn là tôi sẽ dành thì giờ để xem thêm vài phim của ông.

Kèm theo cuốn phim Still Walking tôi mượn ở thư viện có một bài essay review phim của Dennis Lim. Trong quyển này có một số tranh và ảnh tôi scanned và post lên để minh họa. Nhà của hai ông bà Yokoyama ở trên một ngọn đồi cao. Xe chở hành khách thả người ở xa lộ và khách đến thăm phải leo lên những bậc thang này để đến nhà ông bà. Ảnh đầu là ông bà sau khi đưa vợ chồng Ryota ra về hai người trở vềcăn nhà. Bà lẩm bẩm nhớ lại tên người lực sĩ mà bà và Ryota trong khi trò chuyện đã không nhớ ra. Ông hỏi tên người ấy là gì bà chẳng chịu nói ra cho ông biết. Cùng lúc ấy Ryota trên xe buýt cũng nhớ ra tên người lực sĩ. Một chi tiết nhỏ nhưng nói rằng cả hai mẹ con cùng nghĩ đến nhau. Dù bà mẹ nhiều khi nói những lời khắc nghiệt, vô tình làm đau lòng người khác, nhưng đó là một thí dụ về tình gia đình, những đau đớn và ngọt ngào luôn quyện vào nhau.

Ảnh thứ hai là Ryota đi với mẹ. Ảnh thứ ba là những đồ vật trưng bày trong nhà. Một điểm thú vị là đàn ông Nhật Bản trong thời ấy vẫn không giúp đỡ vợ. Ryota với vợ leo lên bậc thang, anh chàng đi tay không trong khi cô vợ xinh đẹp mảnh mai phải tay xách nách mang thở hào hễn.

 

Chuyện nhỏ ở thác Niagara

Hôm qua vội chuẩn bị đi làm tôi nghĩ tối về sẽ viết thêm về thác Niagara, nhưng về nhà xem lại thì thấy tự ảnh đã nói hết rồi còn thêm bớt gì. Để kể chuyện đi chơi tôi có thể kể lể đầu cua tai nheo, nhưng sợ chẳng ai đọc, thứ nhất người đọc chẳng có thì giờ, thứ nhì chuyện chẳng có gì hấp dẫn.

Có một vài chi tiết tôi muốn chia sẻ với các bạn vì chuyện vui vui.

một góc của horseshoe bowl

Thác hùng vĩ lắm. Bạn biết rồi. Đứng bên bờ Hoa Kỳ bạn sẽ không nhìn thấy hết sự hùng vĩ này. Đã có một thời người Hoa Kỳ khai thác thương mại thác không đúng hướng nên thác mất đẹp, lôi thôi nhếch nhác, loạn xị. Hoa Kỳ bị du khách thế giới, đặc biệt là châu Âu chê cười dữ dội nên có sửa chữa. Canada khai thác du lịch ở thác Niagara rất tận tình. Cái gì cũng đắt giá kinh hồn.

khi thác Niagara bên bờ Hoa Kỳ ngừng chảy

Năm 1969, người Mỹ xây cofferdam (chẳng biết chữ này dịch là gì, nó là một cái đập làm bằng thép) chặn dòng thác chảy để khám xét thác và nghiên cứu sự soi mòn của thác. Cái đập này làm dòng thác phía Hoa Kỳ ngưng chảy, trở nên khô cạn. Sau bảy năm, họ rút đập ngăn để thác chảy tự do, và soi mòn tự do. Có lẽ cái gì đi ngược hướng với thiên nhiên cũng gây ra tác hại của nó.

Từ bờ Canada, bạn sẽ nhìn thấy có một vùng thác chảy xuống, miệng thác hình móng ngựa vì thế được gọi là horseshoe bowl. Người ta tổ chức chuyến đi khám phá lòng thác từ phía sau dòng thác, đặt tên chuyến đi là Journey Behind The Falls. Chúng tôi đến mua vé lúc mười hai giờ. Người ta bảo chờ đến một giờ ba mươi mới được vào xem. Giá mỗi người đi xem là 30 đô la Canada. Mỗi người được phát cho một cái áo mưa poncho, loại mỏng dùng một lần thôi. Có thể để dành dùng lại, nhưng tôi cắt lủng lỗ để chừa camera ra tiện việc chụp ảnh. Sắp hàng chừng mấy trăm người, lần lượt đi thang máy xuống dưới lòng thác.

đi luồn phía sau thác

Chúng tôi được căn dặn là đi đến về phía trước, chờ xem, coi chừng trượt té, vân vân. Tôi đi theo người phía trước, tản mác, chỉ nhìn thấy cửa động với một màn nước trắng xóa như thế này. Tôi ngỡ ngàng, chỉ có thế này thôi mà tôi phải trả ba chục đồng. Rip off. Tôi quay qua nói với một người ngoại quốc da trắng. Chỉ có thế này thôi à. Ông ta nói. “Thieves.” Quả là nói oan. Nhưng người ta bóc lột tiền của người đi xem quá độ. Ông nói tiếp. “Nhưng chúng ta cứ đâm sầm vào đổ tiền vào túi của họ, vì thế đó là lỗi của chúng ta, sự ngu ngốc của chúng ta.”

ở phía sau thác

Sự ngỡ ngàng này thật ra bắt đầu từ sự hiểu lầm. Chúng tôi muốn đi lên chiếc tàu chạy trên dòng sông, ngược chiều đến gần thác. Khi nghe đi lên tàu, tôi từ chối không muốn đi. Chồng hỏi tại sao, tôi nói sợ. Chồng nạt, gắt gỏng, “làm gì mà sợ. Đã đến đây rồi mà lại không đi.” Ơ hay, sao người ta lại có quyền bắt mình phải đi phải làm những chuyện mình không thích. Tôi ghét chồng lúc ấy muốn nạt lại nhưng cãi nhau sẽ mất vui của mọi người, và tôi đã rất mệt. Tôi có bệnh tâm lý là tôi rất sợ chỗ đông người. Sợ đi tàu đi ghe (vì vượt biên), sợ những gì bất trắc, sợ đi xe (sợ tai nạn và sợ hư xe), sợ đi xa (dù muốn đi chơi). Bệnh này không rõ rệt lắm nên ít người biết, nhưng nó vẫn hiện diện trong tôi. Và tôi biết rất rõ bệnh của tôi.

Không bị đi tàu, giữa đám đông bát nháo trên tàu tôi thở phào nhẹ nhõm. Té ra chúng tôi chọn chuyến đi lòng vòng trong đường hầm chỉ để xem cái cửa động nhìn ra thác, một màn nước trắng xóa và đám rong bám lơ phơ trên cửa động.

Đi ngược trở ra tôi thấy một con đường khác dẫn ra cửa động khác. Nơi đây là một khoảng sân rộng rãi, có hàng rào. Du khách nhìn thấy bảng hiệu của chuyến đi phía sau thác.

dưới lòng thác nhìn lên miệng thác thấy vách núi dựng đứng

Từ chỗ đứng tôi nhìn thấy vách núi dựng đứng. Chúng tôi đang đứng ở dưới lòng thác nhìn lên.

nhìn thác hùng vĩ

Nước chảy xuống từ miệng horsehoe bowl. Mạnh mẽ. Hùng vĩ. Tiếng nước chảy ầm ầm át cả tiếng nói của đám đông. Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Lý Bạch trong bài Tương Tiến Tửu. “Quân bất kiến. Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai…” Chẳng biết sông Hoàng hà có khúc nào chảy mạnh như thác Niagara không, như nước từ trời rơi xuống sầm sập tung tóe thế này.

Tôi cố chụp cả miệng chén hình móng ngựa nhưng không được vì ánh sáng không đều và tôi không biết cách chụp.

Trong đường hầm có nhiều tấm áp phích giảng giải thêm về lịch sử của thác. nước đổ sầm sập xuống

Và đây là bóng của loại hoa dại màu tím loosetride in lên nền thác.

Chuyện nhỏ ở phố Tàu Toronto

cổng lân
Cổng lân hay cổng rồng ở Chinatown

Dù đang ở trong tình trạng tẩy chay Trung quốc tôi cũng thấy có cái gì đó không ổn thỏa với chính mình. Sao đầy vẻ kỳ thị chủng tộc như thế này. Bản thân mình không thích bị kỳ thị sao lại kỳ thị người khác. Không phải người Trung quốc nào cũng xấu. Họ cũng là những người buôn bán làm ăn mà. Silver rule là đừng làm những gì cho người khác điều gì mình không muốn người khác áp đặt lên mình. Tôi không thể nào tẩy chay thơ Đường, và vẫn còn muốn có dịp nào đó đi thăm năm ngọn núi của Trung quốc được nhắc nhở trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Thôi thì gác sự tẩy chay qua một bên.

Tôi nói, “mình đi xem phố Tàu đi. Cô Tr. và cô Th. thích mua trái cây Việt Nam.”

Ông Tám nói, “Toronto có đến ba phố Tàu. Muốn xem phố nào.”

Ai mà biết phố nào ra phố nào. Tôi nhớ lần đi xa xưa, 2004, có đi cái phố Tàu có cái cổng hoành tráng nên nói. Đi phố nào có cái cổng đó. Ông Tám quên mất tiêu rồi nên lần này cái cổng nhỏ tí không giống cái phố kia.

Buổi trưa, đi ăn, thấy tiệm nào cũng đông, sắp hàng dài. Giao cho cô út nhà tôi chọn chỗ ăn, mỗi người một ý kiến, nên đi bộ rả cả chân mà chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Dim Sum đi. Bánh mì Nguyên Hương kìa. Ăn nhanh và gọn còn đi chỗ khác nữa. Buffet đi, ăn được nhiều món. Cô Tr. muốn ăn cái gì có nước và rau, kiếm lẩu hay hot pot của Hàn đi.

Đúng là nhiều sãi thối ma. Cuối cùng chúng tôi vào một tiệm bán mì. Tôi ưa mì nước tại vì ăn phở mãi muốn thay đổi không khí. Đi tám người, bị chủ tiệm bắt chờ cả nửa tiếng ngoài trời nắng. Tôi nói, chia ra làm hai bàn, mỗi bàn bốn người thì nhanh hơn. Chủ tiệm nói, thêm vài phút nữa tôi quí vị sẽ được ngồi ăn chung với nhau.

Trong khi chờ bàn ăn, tôi nhìn thấy một đám người, ăn mặc đẹp sang trọng đi chợ, nói tiếng Việt. Họ mua trái cây Việt, trả bằng Mỹ kim. Giá hối suất chính thức 100 Mỹ kim bằng 131 đồng Canada. Cô trả giá 129. Người bán hàng chỉ chịu giá 120.

Tô mì vịt làm tôi nhớ thời còn đi học ở Philadelphia. Tôi và một nhóm bạn Việt Nam thỉnh thoảng kéo nhau đi ăn mì vịt ở phố Tàu Phila. Thời nghèo khó, tô mì bảy tám đồng thật là ngon. Tô mì hôm ấy cũng ngon. Gợi nhớ cả thời ăn mì Hải Ký ở Hàng Xanh Thị Nghè, gần nhà cô bạn học đã chết vì ung thư vào năm 1977 hay 78. Nhớ cả những lần đi ăn mì vịt với ông Tám ở New York sau mỗi học kỳ. Lần ấy nhìn thấy ông Mỹ cầm đũa thật điệu nghệ tôi suýt soa mãi.

Tiệm đông khách. Có hai cô gái Á Châu. Một cô da trắng bóng như sứ trắng. Cô kia da không đẹp bằng nhưng cũng không phải là không đẹp. Cô lại có dáng cao mảnh mai, tóc thắt french braid rất đẹp. Hai cô nói chuyện liến thoắng rôm rả. Chẳng biết nói gì vì họ nói tiếng “ngoại quốc.” Một anh Tây cao lớn, mang ba lô lỉnh kỉnh, bụi bặm, bước vào; có lẽ đi du lịch bụi ở đâu mới đến đói bụng nên vào ăn. Ở xéo góc, nhưng ngay tầm nhìn của tôi có ba cậu bé, chừng chưa đến ba mươi. Một cậu Á châu, tóc ngắn, mặt xương, mắt nhỏ. Trông cậu giống như một anh thầy tu người Miến Điện, (hay Tây Tạng, tôi cứ nhầm nhập nhằng họ với nhau) rất điển trai. Cậu ngồi bên cạnh cậu Á châu là một anh da trắng người hơi béo, có bụng, tóc xoăn, có vẻ hiền lành, dễ dãi, vui tính. Ngồi đối diện với hai cậu này là một cậu có vẻ như Ấn độ hay Trung Đông. Tóc đen, quăn. Cậu ngồi đưa lưng về hướng của tôi nên tôi không nhìn thấy mặt. Vai ngang to, đỉnh đầu hơi vuông vì mái tóc, tôi đoán cậu cao hơn hai cậu kia. Nhìn vẻ cân xứng của vai và đầu, có lẽ cậu cũng đẹp không kém gì cậu Á châu. Ba người nói chuyện liên tu bất tận, rất vui. Cậu giống người Ấn ăn xong gọi thêm một đĩa mì nữa. Hai cậu Á châu và da trắng cũng đụng đũa vào đĩa mì, gắp chĩa thức ăn. Trông họ, tôi đóan có một tình bạn rất thân thiết giữa ba người.

Chỉ có thế, nhưng nhìn thấy tình bạn giữa ba người trẻ tuổi, khác chủng tộc, ngay trong phố Tàu trên đất Canada bỗng thấy ấm lòng.

Ở Toronto, tôi không nhìn thấy sự nghi ngờ, đề phòng, đầy sợ hãi như tôi nhìn thấy ở Hoa Kỳ. Người dân có vẻ thoải mái, tin cậy, dễ chịu hơn. Phố Tàu thoáng, sạch, ngăn nắp hơn phố Tàu ở New York.