Rừng chưa thay lá

rung-chua-thay-la
Một khúc đường rừng lá rụng nhiều nhưng cây cối vẫn còn xanh. Anh đi rừng chưa thay lá. Anh về rừng lá thay chưa? Phố cũ bây chừ xa lạ… 

Năm nay thu về muộn. Vài ngày trước ngày chính thức của tiết thu phân trời hơi lạnh. Lá chớm đổi màu thì trời nóng lại. Ngày tôi sang Ottawa rất nóng đi bộ mệt thất thểu. Ngày hôm sau nhiệt độ rớt xuống nhiều, gió mạnh, tôi không mang khăn quàng phải lấy một cái áo mỏng dài tay quấn ngang cổ cho đỡ lạnh. Mấy hôm sau trời ấm lên, dễ chịu hơn. Tưởng sang Canada sẽ gặp mùa thu nhưng lá vẫn xanh, có vẻ ít khô hạn hơn New Jersey.

Thành phố tôi đang ở, đang mùa hạn hán. Mấy tháng nay không có cơn mưa nào đáng kể, chỉ sương sương chưa đủ ướt đất. Lá cây rụng nhiều, rụng ngay cả lúc còn đang xanh. Thì đó, người ta hát rằng, lá chết rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu. 

Thấy cúc vàng là nghĩ đến mùa thu vì câu thơ có nói mùa thu uống rượu hoa vàng. Ở đây người ta gọi cúc là mum. Có người cũng gọi mẹ là mum. Nhưng chữ mum của hoa cúc là phần cuối của chữ chrysanthemum. John Steinbeck có một truyện về hoa cúc rất hay. Có lẽ mùa nhập học là mùa thu, hoa cúc bắt đầu được bán ở nhiều trại hoa, gợi nhớ, nên học trò nhập học môn luận văn thường được bắt học, phân tích truyện Hoa Cúc của văn hào Nobel Steinbeck.

Tôi không nhớ chắc chắn, hình như nhà văn Nhật Kawabata cũng có viết một truyện về hoa cúc. Kawabata thường hay đem văn hóa Nhật vào truyện. Trong Xứ Tuyết ông viết về geisha và nhạc cụ cổ truyền. Trong Ngàn Cánh Hạc ông viết về trà đạo và chén trà quý. Trong truyện ngắn Hoa Cúc ông viết về đèn lồng và bia mộ, cũng là mấy nét đặc sắc của văn hóa Nhật. Cách ông dẫn truyện rất hay. Ông kể một câu chuyện ma, người đàn bà chờ tình nhân hay tình quân, bên cạnh tảng đá vào một ngày tuyết rơi. Người đàn ông lỗi hẹn, nàng chết vì lạnh. Từ chỗ trú ẩn của nàng bên tảng đá, có chỗ lõm vào, từ đó mọc lên đóa cúc vàng. Tác giả nhìn tảng đá nghĩ đến mộ bia và đèn lồng (lantern), cứ thế mà miên man dẫn người đi.

Tôi không chắc người đọc sẽ thấy truyện này hay, nhưng hình như tôi thuộc trường phái thích văn học cổ điển và Á châu. Hôm nào rảnh tôi sẽ lựa ra một số truyện rồi dịch.

Ngày thứ nhất tiếp theo

Nói chưa hết chuyện nàng chủ nhà vui tính và khó tính nên lôi ra kể tiếp. Nàng nắm cổ tôi và ông Tám để nói chuyện cả tiếng đồng hồ. Hai chúng tôi lễ phép đứng nghe. Nhờ nghe nàng nói mà được khen là nàng rất vui được nói chuyện với những người có học. Trong câu chuyện dông dài từ thị trường nhà cửa đến đời sống các nước nàng đã du lịch (nàng chưa đi Á châu), thỉnh thoảng nàng chêm vào vài câu về cách ở trong bed and breakfast của nàng. Nàng than phiền tụi trẻ vào ở không ngăn nắp gọn gàng. Sau đó lại đưa lên facebook than phiền chê bai đủ thứ. “Không thích thì đừng trở lại tại sao lại mang lên mạng mà kể xấu người ta.” Nàng kể chuyện thằng cháu nào đó một ngày tắm hai lần, kết luận “thật ra người ta không cần phải tắm mỗi ngày như vậy. Chỉ có một vài chỗ cần rửa ráy thôi.” Tôi và ông Tám mỗi sáng thức giấc cũng cẩn thận xếp chăn cho ngay ngắn vén khéo. Còn những cái gối trang trí sang trọng thì mình để sang một bên không đụng đến chúng. Nói chơi cho vui, nhưng nếu ai hỏi thì tôi cũng sẽ giới thiệu chỗ ở này, vì nó rẻ bằng nửa giá của khách sạn. Đây là chỗ dành cho người ban ngày đi chơi, tối về ngủ.

Chợ Byward, phân tích ra thì chữ ward có nghĩa là một khu phố, tương tự như chữ quarter trong chữ Latin Quarter của Paris, xóm hay phố La Tinh, mà chúng tôi đám trẻ con Việt Nam khi mới lớn lên nghe trong bài hát, “hỡi em ‘người xóm học’ sương trắng hè phố đêm.” Còn chữ By là họ của một người đã góp phần tạo dựng thành phố Ottawa từ những ngày mới bắt đầu. Tên của ông là John By.

Trong những cuộc đi chơi, tôi cũng có tìm hiểu chút đỉnh về nơi tôi sắp đến, tuy nhiên bản tính lười và có nhiều thứ chi phối nên tôi không tìm hiểu nhiều. Vả lại không tìm hiểu nghiên cứu trước cũng có cái hay là nó làm mình ngạc nhiên. Tôi cốt ý muốn xem vườn thiền nên không chú ý đến mọi thứ khác, nên Byward market làm tôi ngạc nhiên và thú vị.

Vòng quanh chợ, thấy có nhiều nhà hàng của người Irish. Ngày đầu tiên tôi đến trời khá nóng, người ta đặt bàn và dù bên ngoài nhà hàng, màu sắc rất thu hút, nhiều màu đỏ, màu xanh lá cây. Nhạc sĩ trình diễn trên phố vào buổi tối đã thấy đi lang thang với kèn, đàn, hay trống. Đồ thủ công mỹ nghệ cũng được bán trên hè phố rất nhiều, tơ lụa đầy màu sắc. Đa số người ta dọn hàng khi tắt nắng, có vài cửa hàng mở trễ đến tám chín giờ tối mới thu dọn.

Tôi thấy có một nhà hàng Thái, một nhà hàng Tàu, một vài cửa tiệm bán sushi, hai nhà hàng Việt, nhiều nhà hàng Irish, tiệm café. Rất ít nhà hàng Ý, hay nhà hàng Mỹ. Đi đâu cũng thấy Tim Horton nên tôi và ông Tám vào thử, mới biết nó tương tự như McDonald. Tôi gọi một cái bánh parini thịt bò giống như hamburger nhưng gói trong tấm wrap (bánh mì mỏng như bánh tráng và mềm). Ăn khá ngon. Dù tôi không đụng đến khoai tây chiên (cắt dày và to hơn khoai tây chiên của McDonald) mà tôi no suốt buổi tối.

Beavertails là một cửa tiệm bán bánh, nổi tiếng lâu đủ để được vào sách du lịch của Frommer và có một bài trên Wikipedia. Bánh chiên thì có lẽ cũng na ná như donuts. Tôi đi ngang thấy tiệm lúc nào cũng đông khách, trang trí đẹp, nằm ngay cái góc dễ thấy nên du khách thường bấm một vài tấm ảnh về làm kỷ niệm. Mấy cái tiệm bán fastfood ngó sang một department store có tên là Trudeau Centre, nhìn lên mấy cái hành lang trên cao bắt ngang đường phố để giúp người dạo tiệm không phải băng ngang đường. Trên đó nam thanh nữ tú rất nhiều. Điểm đặc biệt ở Ottawa tôi nhận thấy là số người Á châu rất đông. Chiều hôm ấy tôi thấy các cô cậu ăn mặc như tài tử Hàn quốc, rất bắt mắt. Số người lang thang, lôi thôi đi phố nào cũng có  cũng gặp. Tuy họ chẳng xin xỏ nhưng thỉnh thoảng cũng có vài hành động cử chỉ làm mình e dè.

 

Ottawa ngày thứ nhất

Tôi chỉ có nửa giờ để blog vì phải đi rừng vì thế chưng ảnh trước, kể chuyện sau. Phải hứa trước để tôi cố giữ lời hứa mà thực hiện.

Tôi đến Ottawa vào chiều thứ Bảy, sáng thứ Ba về. Đây là căn nhà tôi ở trọ cách thành phố chừng năm hay sáu miles (dặm). Giá rẻ bằng phân nửa giá khách sạn ở ngay trong thành phố. Cả bên ngoài và bên trong đều rất tươm tất, sạch sẽ. Bạn quen đi chơi ở nước ngoài ai cũng biết những chỗ cho ở trọ vài ngày gọi là “bed and breakfast” cho người đi chơi cần chỗ ngả lưng, ăn sáng không đòi hỏi phục vụ sang trọng như khách sạn và đỡ tạp nhạp hơn motel.

Chủ nhân là một phụ nữ người da trắng, nói tiếng Anh rất dễ nghe vì giống như tiếng Anh của người Mỹ. Trông nàng rất trẻ, người rất slim (thon thả nhưng không yếu đuối), rất khỏe, tóc bạch kim. Tôi đoán chắc là nàng phải sáu mươi hay hơn, nhưng chỉ nhìn thoáng qua trông như mới năm mươi. Khóe môi có đường nứt nẻ, khóe mắt đầy dấu chân chim, nhưng da căng, mặt sáng, không trang điểm mà vẫn đẹp.

Có lẽ nàng một mình trông coi sự nghiệp nên khi nói chuyện hay thêm vào những câu ám chỉ là mình có người đàn ông cộng sự cộng tác. Làm như thế để phòng thủ kẻo người lạ biết nàng chỉ có một thân một mình dễ sinh chuyện lôi thôi. Nàng thích nói chuyện và là người rất thông minh, hiểu biết chuyện chính trị thời sự của cả thế giới chứ không riêng gì Canada hay Mỹ. Nàng nói chuyện với chúng tôi cả giờ đồng hồ. Thật ra chỉ có nàng nói (không dứt) còn tôi và ông Tám đứng nghe. Tôi thầm nghĩ đàn bà mà sao nói nhiều quá. Cũng may là những điều nàng nói nghe thú vị, chứ tôi sợ những người nói nhiều mà nói những điều tôi không thích nghe.

Nàng cho biết những luật lệ của nàng, căn nhà có bốn phòng rộng cho thuê. Mỗi phòng rất to, rất thoải mái. Áp suất nước rất cao, phòng tắm rất rộng, rộng hơn những khách sạn tôi đã từng ở trước đây. Tuy nhiên luật của nàng rất gắt gao, làm tôi có cảm tưởng như đang ở nhà của má chồng. Đi rón rén, không tắm sớm, không tắm khuya, không tắm hai lần. Trong phòng tắm không có giấy lau tay. Cái bất tiện là phòng tắm dùng chung cho người thuê phòng. Khăn tắm khăn mặt của nàng màu đen, cứng ngắt có lẽ vì không dùng máy sấy hay (tôi có cảm tưởng) cho nhiều thuốc giặt mà không giặt sạch.

Những người khách ở cùng thời gian với tôi đa số là những cặp vợ chồng già (cỡ tuổi của tôi và ông Tám). Có một đôi vợ chồng người Hàn đi vòng quanh thế giới để viết sách. Thật là đáng ngưỡng mộ ông chồng đã chìu vợ đưa vợ đi khắp nơi như vậy. Có lẽ ông cũng thích du hành. Rất tiếc là bà viết blog bằng tiếng Hàn chứ không viết tiếng Anh.

Vài tấm ảnh lúc đi chơi Ottawa

vuon-thien-nhat-ban-o-ottawa
Vườn Thiền Nhật Bản ở Ottawa

Đi Houston vài lần nhưng đó là đi lễ tang giáp năm người anh của ông Tám. Đi Toronto vui nhưng đi vì con và cháu muốn đi. Ottawa là nơi tôi muốn đi, và đi chỉ vì muốn tận mắt nhìn cái vườn thiền Nhật Bản này đây. Không đến độ obsessed (yêu thích đến ám ảnh mê muội) nhưng tôi thích đá từ lâu. Tôi say mê những bức tường đá, nhà đá, hàng rào đá, vườn đá, nên từ lâu thường hay tìm đọc những thứ liên quan đến đá. Nghe tiếng vườn thiền đá của Nhật Bản từ lâu được biết vài nơi ở Hoa Kỳ có vườn đá nhưng rất xa. Trong khi Ottawa chỉ cách nơi tôi ở độ tám giờ lái xe tốc độ trung bình. Rất may là ông Tám cũng muốn đi. Thế là mục đích duy nhất của tôi trong chuyến đi Ottawa được hoàn thành, và dọc đường gió bụi có rất nhiều cái hay ho để xem, nhiều ảnh (xoàng xoàng) để đăng lên blog. Dưới đây là vài tấm khởi đầu. Chắc  phải lâu lâu mới có thì giờ để viết kỹ hơn.

New Jersey là tiểu bang giáp biển, có núi nhưng ở xa. Đến biên giới New York là thấy núi.

Phố núi cao, phố núi trời gần.
Phố núi cây xanh, trời thấp thật gần.

Tôi vẫn thầm mơ ước được quanh xe vào trong một thị trấn nhỏ vùng núi, ở lại qua đêm tận hưởng cái không khí lành lạnh, nhìn trời mờ mờ sương buổi sáng, may ra có tiếng gà rừng gáy, thú rừng kêu hú, lãng mạn chết luôn!

Đi chơi mới về

Bạn có tin vào tử vi không. Đôi khi tôi muốn tin vào tử vi, nhưng chỉ muốn tin vào những chuyện tốt. Thí dụ như tử vi của tôi cung Thiên Di có thanh long thiên mã (nhưng gặp Triệt). Người ta bảo đó là tử vi của ngựa chạy đường cùng. Những năm còn niên thiếu tôi chẳng mấy khi được đi chơi xa, cũng chẳng thấy thèm đi. Đến chừng đi thì đi ra khỏi nước, trong tình trạng nguy hiểm tưởng chết. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến Thiên Mã gặp Triệt. Trong vòng mười năm sắp đến tử vi của tôi ứng vào cung Thiên Di. Chẳng biết có đúng hay không nhưng bỗng dưng tôi có cơ hội, gặp dịp đi nhiều nơi, gần gần thôi.

Bắt đầu là chuyến đi Houston, dự lễ 100 ngày anh chồng qua đời. Tiếp theo là lại đi Houston gặp bạn, rủ nhau đi Austin. Đi chơi Toronto. Đưa nhỏ út đi học ở Illinois. Đi Ottawa. Đi Houston dự kỷ niệm một năm anh chồng qua đời. Còn một chuyến đi nữa vào tháng 10, nhưng chưa đi không thể tính trước.

Mỗi lần nói chuyện đi chơi, trong gia đình nhiều người cứ nghĩ tôi là người chẳng thích đi. Ông Tám cứ mỗi lần nói chuyện đi là lên giọng gắt gỏng tôi. (Lúc sau này chẳng hiểu tại sao, có lẽ tôi trở nên lẩm cẩm lú lẩn sao đó mà tôi bị nạt nộ bị gắt gỏng từ trong nhà đến ngoài đường. Riết rồi tôi muốn tránh xa những người hay gắt tôi.) Thật ra tôi thường mơ mộng những chuyến đi đến những phương trời xa lạ.

Nhưng đi để làm gì? Có bao giờ bạn tự hỏi lý do của những chuyến đi chơi xa của bạn. Có người đi hiking hằng ngàn dặm để tìm chính mình (và viết thành quyển sách) như Cheryl Strayed. Ở Hoa Kỳ đã có hằng ngàn quyển sách về du hành ký. Họ đi tìm gì? Đi để lấy tư liệu viết văn? Để chinh phục đường dài, núi cao. Để là người giàu có và hiểu biết vì đi hết thành phố lớn này đến thành phố khác?

Ở Houston, tôi gặp một người quen ở VN mới sang. Bà này kêu lên, ở đây dễ quá, sướng quá, cứ thích đi chơi là đi chơi. Chứ ở VN muốn đi chơi phải để dành tiền lâu lắm. Tôi không dám trả lời. Thật ra ở đây muốn đi chơi phải hội đủ một vài điều kiện, có tiền, có sức khỏe, có thì giờ, và nếu muốn vòng quanh nước Mỹ bằng xe hơi thì phải hiểu biết luật giao thông, biết lái xe, và ít ra phải biết sử dụng tiếng Anh trôi chảy. Nghĩ ra chẳng dễ chút nào.

Với tôi mỗi lần đi chơi phải tìm người trông nuôi hai con mèo. Cô nàng Tiểu Thư có thể để ở trong nhà ba bốn ngày, để nhiều thức ăn nước uống. Để cửa sổ cho nàng có thể nhảy ra nhảy vào. Còn chàng Lãng Tử thì tội nghiệp hơn. Để thức ăn nhiều thì mấy con ground hogs, opossum, ngay cả chim blue jays nữa, sẽ ăn hết. Trước khi đi tôi khui một hộp cá chia làm hai cho hai con mèo. Tiểu Thư liếm láp chút xíu rồi bỏ đi, phần của nàng tôi mang luôn cho Lãng Tử, chàng ăn ngấu nghiến chỉ một loáng là chấm dứt. Những lần đi ngắn ngày không ai trông hai con mèo, trở về tôi vẫn ngóng tìm Lãng Tử. Nó mất biệt mấy ngày tôi nghĩ là chắc nó bỏ đi luôn không về nữa. Tôi thấy nhẹ nhõm, chắc hết nợ con mèo này. Vắng Lãng Tử, Tiểu Thư mon men ra ngoài sân chơi nhiều hơn. Tuy nhiên, có một chiều chàng mèo hoang trở lại, nằm chờ ăn. Tà tôi bỗng thấy vui mừng, như gặp lại người quen. Thấy trên cổ nó có một con bọ ký sinh to lớn vì hút máu nó. Tội nghiệp nhưng chẳng giúp được gì. Thấy lòng mình bỗng giống như hai câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên:

Quên người nhất đinh ta quên,
Nhưng sao gặp lại còn kiên nhẫn chào.

Nước Mỹ có nhiều trạm dừng chân cho người lái xe đường trường nghỉ ngơi rất đẹp. Làm một chuyến du hành vòng quanh nước Mỹ người ta có nhiều chuyện để kể về các trạm dừng chân này. Dừng chân đổ xăng ở Pennsylvania tôi thấy một cánh ruộng đầy hoa golden rods. Hoa này thơm và có mật ngọt nên loài ong rất thích.

Hôm trước khi đi Houston, tôi và ông Tám đi hiking cho khỏe người, thấy một đóa hoa mọc gần bờ. Hoa súng màu vàng, có lần tôi gọi nó là thủy cúc, nghe cho có vẻ lãng mạn, vì nhớ câu ca dao

Cúc mọc dưới sông gọi là cúc thủy,
chợ Sài gòn xa chợ Mỹ cũng xa.
Viết thư thăm hết mọi nhà,
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em.

Thật ra hoa này trông giống hoa hồng vàng, hơn là hoa cúc. Có lẽ nên gọi nó là hoàng thủy hồng.🙂

Trên đường đi từ Canada trở lại Mỹ tôi thấy một cái bảng chỉ lối vào một nơi có tên là 1000 islands. Cái bảng rất đặc biệt màu xanh nhưng chữ vàng kim chứ không trắng như những bảng chỉ lối trên đường cao tốc. Trạm dừng chân sau đó có cái tượng đài hải đăng thu nhỏ, có giới thiệu địa danh 1000 islands. Chỗ này của dân nhà giàu của cả hai nước Canada và Hoa Kỳ ở. Vùng này bao gồm gần 1500 đảo. Để được gọi là đảo phải hội đủ vài điều kiện là có ít nhất hai cây to, phải nổi lên trên mặt nước vài mét, và một vài qui định khác. Có đảo chỉ có một nhà, và lại bị bỏ hoang. Hôm nọ thấy trên trang người ta đăng ảnh một căn nhà trên đảo thuộc quần đảo 1000 này tôi đã ao ước được ra đó ở một thời gian để … viết văn.

Chuyến đi Houston trở về tôi được ngồi gần cửa sổ. Trời trong nắng vàng, nhìn xuống thấy mây trôi từng cụm. Lần này nhìn mây thấy lạ vì những đám mây nhỏ này dường như cùng nằm trên một mặt phẳng, như những cụm lục bình trôi trên sông. Thỉnh thoảng có một đám hơi nước, chưa đủ dày để thành mây, gió thổi lướt qua, nhìn thấy dáng mờ mờ như một bóng ma. Cả thế giới bơi lội trong không khí, một môi trường chúng ta biết hiện diện nhưng không nhìn thấy. Ra khỏi bầu khí quyển, tất cả những hành tinh vệ tinh trong vũ trụ có lẽ cũng bơi lội trong một môi trường khác nữa mà chúng ta chưa biết rõ. Dưới đám mây kia tôi thấy núi đồi, sông, thành phố. Vào gần thành phố thấy những khu nhà, bãi đậu xe tạo thành những hoa văn lạ mắt. Nếu có người của hành tinh khác, chắc với họ thật là một cảnh tượng quyến rũ lạ lùng.

Thị trấn thuyền nhân

“Vì sao phải cố đào bới lại một thứ chẳng liên quan tới mình, chẳng tồn tại trong cuộc đời mình hay liên đới bất kỳ đau khổ nào với những gì mình từng chứng kiến.”

Vì đây là sự cảm thông với số phận của những người Việt Nam bất hạnh.

Xin mời các bạn đọc bài vừa tùy bút vừa biên khảo vừa du hành ký đến Songkla của Khải Đơn để tưởng niệm thuyền nhân bất hạnh.

Khải Đơn

Tôi đến Songkhla sau một chuyến tàu dài hơn một đêm. Cùng ngày hôm ấy, nhà ga xe lửa ở Pattani bị đánh bom. Con tàu dừng hàng chục lần trong đêm. Cảnh sát có súng lên xuống kiểm tra căn cước của người khách bất kỳ nào đó.


Người ngồi cạnh là một bạn lính về thăm nhà. Hôm ấy trong ga Hua Lam Phong, một đơn vị quân đội xếp hàng nghe vị chỉ huy dặn dò gì đó, rồi tản ra các toa tàu. Ai ngờ bạn đi cùng tàu với tôi, về thăm nhà ở Yala.

Đám đông xúm lại nhìn qua màn hình Line của bạn khi đợt cảnh sát đầu tiên lên tàu kiểm tra. Và từ lúc đó trở đi, thỉnh thoảng giữa cánh đồng tối đen không trăng sao, con tàu lầm lì dừng lại và đón một đợt kiểm tra mới.

View original post 2,353 more words

Sách của mình in mà mình không biết

Có một bạn nào đó thật là giỏi, đã đem một số truyện ngắn, và truyện dịch của mình làm thành e-book với những cái bìa thật là xinh xắn. Tôi thật ngỡ ngàng khi nhận ra đây là truyện của tôi. Nghĩ đến lúc đem in truyện thành sách, cầm trên tay chắc là vui lắm.

Cám ơn bạn đã đọc, nhận thấy có chút giá trị nào đó, làm bìa gắn vào, và đem bán (nhưng miễn phí). Bạn có nói đã xin phép và được tác giả đồng ý, điều này thì tôi chẳng nhớ và tôi cũng chẳng biết bạn là ai. Giá mà bạn nói cho tôi biết thì tôi vui hơn nhiều.

Bạn này chắc thường đọc Gió O bởi vì có một số bài chỉ đăng ở Gió O mà không đem về trang nhà. Cám ơn công của bạn, nhờ bạn chắc tôi nổi tiếng hơn một chút. Thật ra công bạn đọc mấy cái truyện xoàng xoàng của tôi và làm bìa thật đẹp thì thật là hơn đứt cái tội không nói cho tôi biết🙂 Tuy nhiên, nếu mai sau tôi có trở thành nhà văn nổi tiếng và nếu bạn có bán được sách của tôi thì xin bạn giữ năm chục phần trăm, số còn lại xin tặng cho các em bé nghèo, mồ côi nhé.