Mèo hoang

Không phải tên một tác phẩm của một nhà văn nữ nổi tiếng của Sài gòn năm xưa đâu nha. Tôi đang nghĩ đến mấy con mèo hoang tôi gặp trên đường rừng.

Sáng hôm thứ Bảy 12/03/2016 tôi lái xe đến bãi đậu xe, nơi bắt đầu đoạn đường rừng. Thấy trong giỏ rác nhảy ra một con mèo tam thể, một bên mắt màu vàng (chắc mắt bị mù). Con mèo khá đầy đặn trông có vẻ như mèo nuôi. Có lẽ còn trẻ thôi (độ chừng một hay hai tuổi), nếu so với Nora nhà tôi (đã bảy tuổi). Tự hỏi, chắc có người đem bỏ con mèo. Chở đến bìa rừng, đẩy nó xuống.

Một lần khác, trời đã mùa thu, tôi đang đi vòng bên hồ trong rừng, thấy có con mèo trắng, gầy trơ xương, có lẽ đang rình ếch nhái hay chim. Nghĩ thầm, chắc có ai đem bỏ con mèo. Làm sao sống nổi trong rừng cho hết mùa đông.

Một lần khác, tôi thấy có con mèo mướp, khá to, giống như được nuôi, hoặc là mới bị đem bỏ. Thấy chúng tôi nó băng qua con suối chạy mất.

Chung quanh rừng, có khi có nhà, nhưng không gần lắm. Không biết mèo người ta nuôi đi chơi lang thang bị lạc, hay người ta đem bỏ. Tôi không có mang theo thức ăn mà mèo có thể ăn được. Cũng thầm nghĩ một tí thức ăn làm sao có thể giúp chúng nó sống sót qua mùa lạnh. Cho thú hoang ăn có phải cũng là một cách làm giảm đi bản năng sinh tồn của chúng không?

Ông Tám thấy cái ổ mèo làm cho Boyfriend bị ướt nên lôi mấy cái giẻ ra phơi cho khô. Ông che thêm mấy tấm bạt cho kín gió, tránh mưa. Con mèo bị động ổ không dám đến ngủ nữa dù vẫn đến ăn. Mấy hôm nay Boyfriend được ăn thịt gà tây (gà lôi) còn thừa từ hôm lễ Tạ ơn.

Chùm ảnh hoa cúc

Hoa cúc, tiếng Anh là chrysanthemum. Người Nhật gọi là kiku. Người Việt mình cũng trồng nhiều hoa cúc. Loại hoa thật to gọi là cúc đại đóa. Ở Đà Lạt và Sài Gòn gần Tết hay có hoa thược dược, cũng là hoa cúc. Gia đình nhà hoa cúc rất rộng lớn. Chịu khó mày mò tìm kiếm một hồi chắc cũng tìm được một số trong gia đình nhà cúc, như hoa vạn thọ, zinnia (không biết tên Việt), cúc họa mi, cúc trắng (daisy), cúc thạch thảo. Còn nhiều.

Có một bạn nhận xét rằng, người Nhật làm gì cũng chăm chút, tỉ mỉ, khéo léo đến độ nâng lên hàng nghệ thuật. Bạn đưa ra nhận xét với hai bài blog tôi viết; lần đầu là một tấm ảnh về những cái bàn tay, có móng tay sơn và đính nữ trang. Lần thứ nhì là bài về phim Jiro, ông làm sushi đến bậc tổ sư, hay sư tổ (master). Trong chùm ảnh này bạn sẽ nhìn thấy nghệ thuật trồng hoa cúc của người Nhật. Trong tám tấm ảnh này bạn sẽ thấy vài ba kỹ thuật trồng hoa cúc.

Và dưới đây là chùm ảnh hoa cúc, tượng trưng cho một số hoa tôi nhìn thấy trong vườn bách thảo.

Bàn tay đặt cạnh cái đóa hoa cúc không phải là của tôi. Có một thiếu nữ chừng dưới hai mươi, đi với mẹ, hay cô dì gì đó, đi ngang. Tôi nhờ cô đưa bàn tay làm mẩu để tôi so sánh kích thước với cái đóa hoa. Bàn tay cô còn bé hơn cái đóa hoa dù cô cũng khá cao lớn như phụ nữ Tây phương. Rất may, cô có bàn tay được chăm sóc kỹ lưỡng rất đẹp.

Hoa cúc trong văn học Tây phương tôi không gặp nhiều. Chỉ có một truyện ngắn của John Steinbeck. Alisa, người phụ nữ ở tuổi ba mươi, có tài trồng hoa cúc, mỗi hoa to cỡ 10 inches tức là hai tấc rưỡi. Một anh thợ đồng nát, chuyên vỗ nồi ấm méo, mài dao mài kéo đi ngang. Anh đói quá nên gạ nàng mài dao mài kéo. Nàng từ chối. Anh khéo léo lấy lòng nàng bằng cách khen hoa, xin giống hoa để làm quà cho một người khách hàng khác. Alisa sung sướng chọn hoa có giống tốt nhất, chỉ dẫn cách trồng, gói trong chậu đưa cho anh chàng mài dao. Trước đó nàng cũng cố lục lọi nồi ấm cũ để anh chàng sửa chữa tốn đâu chừng năm mươi xu. Chiều hôm đó nàng vui vẻ sung sướng, mặt mũi tươi sáng đến độ chồng nàng phải ngạc nhiên. Và vì đã kết thúc một hợp đồng buôn bán gia súc thành công, người chồng đề nghị ăn mừng bằng cách đưa nàng đi ăn tối. Trên đường đi nàng khám phá gã thợ đồng nát đã ném đóa hoa cúc giống nàng gói tặng bên lề đường. Hắn giữ lại cái chậu hoa. Alisa lén dấu những giọt nước mắt vì sợ chồng nhận ra. Nếu là tôi, thì tôi cũng khóc. Cứ tưởng tượng chậu hoa đó như là một tác phẩm mình tâng tiu, hay một cảm tình mình dành cho người nào đó, bị ném lăn lóc trên đường, cái chậu hoa rẻ tiền, hay tờ giấy gói quyển sách, được giữ lại vì có giá trị với người nhận hơn là đóa hoa hay quyển sách. Đau lòng chứ. Ngoài ra tôi cũng sẽ khóc vì sự ngu muội, dễ tin vào những lời tâng bốc.

Tôi gặp nhiều truyện về hoa cúc do người Nhật và người Hàn viết. Truyện nào cũng hay nhưng không đủ thúc đẩy tôi vượt qua sự lười biếng để dịch. Tôi xem phim “Câu chuyện về đóa hoa cúc cuối cùng” của đạo diễn Kenji Mizoguchi, truyện của Shofu Muramatsu. Phim này rất xưa, từ năm 1939, và có lẽ truyện không mấy nổi tiếng ở Hoa Kỳ nên không biết có dịch ra tiếng Anh không. Cuốn phim nói về một cô bảo mẫu giữ con cho bà vợ của ông chủ đoàn kịch kabuki. Cô yêu anh con trai nuôi của ông chủ, cũng là diễn viên của đoàn kịch. Cuộc tình trắc trở, anh chàng bị đuổi đi. Cô tìm anh chàng, xin được làm vợ, hầu hạ và giúp đỡ anh chàng trở thành diễn viên. Đúng là cái kiểu đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. Cuộc sống nghèo nàn, anh chồng thất chí nhiều khi say sưa, vòi tiền để đi nhậu, không có sinh ra đánh đập nàng. Nàng vẫn một lòng cam chịu, hy sinh giúp chồng. Khi anh chồng thành tài nổi tiếng, thì cũng là lúc nàng qua đời trong đơn độc. Tôi không thích cái kết cục buồn thảm, nên viết lại đoạn cuối theo ý tôi. Suốt cuốn phim tôi không biết ai là đóa hoa cúc cuối cùng. Anh chàng diễn viên kabuki có tên là Kiku, nghĩa là hoa cúc. Anh thành tài như đóa hoa cúc nở trong mùa thu lạnh lẽo. Hay chính cô nàng vợ số phận bạc bẽo Otoku chính là đóa hoa cúc cuối cùng?

Không hẳn là phóng tác, tôi viết lại đoạn cuối nhưng không theo khuôn mẫu của phim hay dùng đối thoại của phim, cũng không dựa vào bối cảnh của phim. Tôi kết hợp một chi tiết trong truyện ngắn hoang đường của Osamu Dazai có tên là “Linh hồn của hoa cúc”; đó là có một vị thần hoa cúc, trồng hoa cúc rất đẹp, khi say chàng biến thành vũng rượu hay vũng nước. Tôi đặt tên chàng là Ichi, cho chàng làm em của Otoku, dựa vào lịch sử kịch kabuki mà viết thành một truyện ngắn khác, kết cuộc khác. Tôi cũng cắt ngắn tên họ của các nhân vật để dễ đọc hơn. Tên Nhật thường dài hơi giống nhau khó nhớ. Khoan khoan, bớ bậu, đừng vội chê tôi. Tài năng như ông Dazai cũng mượn ý từ huyền thoại hay truyện ma của các bậc tiền bối Nhật Bản đấy.

Như đã nói, muốn viết truyện hay, phải liều viết truyện không hay không hay trước đã. Và mượn ý của người đời xưa. Ít ra tôi cũng đã làm lụng vất vả cực nhọc. Truyện cần được đọc lại viết lại, nhưng phải một thời gian sau cho nó ngấm cái đã. À quên, tôi còn thổi vào đó một chút nữ quyền nữa chứ.

Quảng cáo trước, bạn chờ vài hôm.

Cái kén đỏ

Tác giả: Kobo Abé. Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Trích trong quyển “A Late Chrysanthemum – Twenty-one Stories from the Japanese” Lane Dunlop dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Mặt trời bắt đầu lặn. Đây là lúc người ta vội vã về nhà, về tổ ấm, nhưng tôi không có một tổ ấm để về. Tôi bước chầm chậm trên con đường hẹp giữa hai dãy nhà. Mặc dù có rất nhiều nhà dọc hai bên đường, tại sao không có căn nào là của tôi? Tôi suy nghĩ, lập lại câu hỏi này hằng trăm lần.

Khi tôi đi tiểu vào cái cột điện thoại, có một đoạn dây rơi thòng xuống, tôi muốn dùng nó mà tự tử cho rồi. Sợi dây, liếc nhìn cái cổ tôi, nói rằng: “Chúng ta hãy cùng nhau nghỉ ngơi, anh ạ.” Tôi cũng muốn thế, nhưng tôi lại không thể nghỉ ngơi. Tôi không phải là anh của sợi dây, thêm vào đó, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao tôi không có nhà.

Ngày lại ngày, đêm cứ về. Khi đêm về, bạn phải ngủ. Nhà là nơi để người ta ngủ. Nếu quả vậy, đó không phải vì tôi không có lấy một căn nhà. Đúng không?

Bỗng nhiên, tôi có ý nghĩ. Có lẽ tôi đã sai lầm. Tôi đã phạm một lỗi rất quan trọng trong cách suy nghĩ của tôi. Có lẽ không phải vì tôi không có nhà, mà tại vì tôi đã quên căn nhà của tôi. Đúng rồi. Có thể là như vậy. Thí dụ như, tôi dừng lại trước căn nhà này, nơi tôi ngẫu nhiên đi ngang qua. Rất có thể đây không phải là căn nhà của tôi? Dĩ nhiên rồi, so nó với mấy căn nhà kia, nó chẳng có nét gì đặc biệt cả, điều này đã được “thở ra” rồi, nhưng ai cũng có thể nói điều này về bất cứ căn nhà nào. Không thể dùng điều này làm bằng chứng để loại trừ một sự thật, đây có lẽ là căn nhà của tôi. Tôi thấy can đảm hơn. Ok, mình gõ cửa đi.

Tôi thật là gặp may. Gương mặt tươi cười của người đàn bà ló ra sau cánh cửa sổ mở hé. Nàng có vẻ tử tế. Ngọn gió hy vọng thổi xuyên qua vùng lân cận của trái tim tôi. Trái tim tôi như một lá cờ trải rộng ra và bay phất phơ trong ngọn gió này. Tôi cũng mỉm cười tươi. Như là một gã đàn ông lịch thiệp, tôi nói:

“Xin lỗi cô, đây là nhà của tôi, phải không?”

Gương mặt nàng bỗng đanh lại. “Hả? Ông là ai?”

Đang dợm giải thích, bất thình lình tôi mất khả năng. Tôi không biết tôi phải giải thích cái gì. Làm sao tôi có thể khiến nàng hiểu rằng đây không phải là lúc đặt câu hỏi tôi là ai? Bắt đầu cảm thấy hơi tuyệt vọng, tôi nói:

“Thôi được, nếu như cô không đồng ý căn nhà này là của tôi, xin cô vui lòng chứng minh, được không?”

“Trời ơi. . . ” Khuôn mặt nàng đầy vẻ sợ hãi. Điều này làm tôi tức giận.

“Nếu cô không có bằng chứng, thì tôi có quyền nghĩ rằng căn nhà là của tôi.”

“Nhưng đây là nhà của tôi.”

“Nghĩa lý gì chứ? Cô bảo đây là nhà của cô không có nghĩa đây không phải là nhà tôi. Đúng là như thế đấy.”

Thay vì trả lời tôi, nàng quay mặt vào tường và đóng cửa sổ lại. Đó là bản chất thật của người đàn bà có khuôn mặt tươi cười. Sự biến chuyển này luôn luôn dẫn đến một lý luận rất khó hiểu, đó là, một món đồ của một người nào đó, thì nó không là của tôi.

Nhưng, tại sao. . . tại sao tất cả mọi thứ đều là của người khác và không là của tôi? Ngay cả nếu như có một thứ gì đó không là của tôi, thì nó có thể không là của bất cứ người nào không?

Đôi khi, tôi mang ảo tưởng. Rằng những cái ống cống xi măng ở các công trường xây dựng hay ở trong sân chứa đồ dùng hư cũ, là nhà của tôi. Nhưng chúng đang sắp sửa thuộc về người khác. Bởi vì chúng trở thành đồ dùng của người khác, chúng biến mất, không ẩn chứa dấu vết gì về những ao ước của tôi hay những ý thích của chúng. Hay chúng trở thành cái gì đó rõ ràng là chẳng phải nhà của tôi.

Thế thì, còn những cái băng ghế trong công viên? Chúng chẳng sao cả, tất nhiên rồi. Nếu thật sự chúng là nhà của tôi, và nếu như hắn đừng đến và rượt đuổi tôi bằng cây gậy của hắn…  Chắc chắn chúng là của dành cho tất cả mọi người chứ không riêng của ai. Nhưng hắn nói:

“Ê, anh kia, đi chỗ khác. Cái băng ghế này là của chung. Nó không thuộc về một cá nhân nào cả, ít nhất nó không là của anh. Nào đứng dậy, bắt đầu, đi. Nếu anh không thích vâng lời, anh có thể bị giam vào tù suốt đêm ở dưới hầm trong đồn cảnh sát. Nếu anh ngừng lại ở bất cứ nơi nào khác, không cần biết ở đâu, anh sẽ vi phạm luật lệ.”

Một gã Do Thái lang thang – đó có phải là tôi không?

Mặt trời bắt đầu lặn. Tôi tiếp tục bước.

Một căn nhà . . .  những ngôi nhà không biến mất, mà biến thành một thứ khác, đứng trên mặt đất và không di chuyển. Ở giữa chúng, con đường hẹp cứ tiếp tục thay đổi. Không có bất cứ khuôn mặt nào quen thuộc. . .  trong con đường. Ngày mưa, con đường giống như cây cọ nhúng màu. Ngày tuyết, nó biến thành chiều ngang của những vệt bánh xe. Ngày gió, nó tuôn chảy như một cái băng cuốn chở hàng hóa. Tôi cứ tiếp tục đi. Tôi không thể hiểu tại sao tôi không có nhà, và vì thế ngay cả tự treo cổ tôi cũng không làm được.

Ê, người nào đang nắm chặt cổ chân tôi thế? Nếu đó là sợi dây dùng để treo cổ, thì đừng nên khích động, và đừng quá vội vàng. Nhưng đó không phải là sợi dây treo cổ. Nó chỉ là một sợi chỉ tơ nhơm nhớp trên ngón tay. Khi tôi nắm kéo nó, phần cuối sợi tơ bị tách rời ra làm hai, một phần ở trên chiếc giày và phần kia ở dưới đế giày của tôi. Nó cứ tiếp tục dài ra, dài ra, giống như là bị trơn tuột vậy. Thật là lạ lùng quá. Cơn tò mò khiến tôi cứ tiếp tục kéo mãi. Rồi một chuyện càng lạ lùng hơn đã xảy ra. Tôi chầm chậm xoay nghiêng người. Tôi không thể đứng thẳng góc với mặt đất. Phải chăng cái trục xoay của địa cầu đã nghiêng hay là trọng lực đã thay đổi hướng?

Uỵch! Chiếc giày của tôi rơi ra, chạm mặt đất. Tôi thấy chuyện đang xảy ra. Trục địa cầu không nghiêng, mà một chân của tôi trở nên ngắn hơn. Lúc tôi kéo sợi tơ, thì chân tôi nhanh chóng bị ngắn dần. Giống như cái khuỷu tay áo khoác bị mòn và bung chỉ. Cái chân tôi cứ bị tháo chỉ ra. Sợi chỉ tơ, giống như xơ của trái bầu dài hình con rắn, chính là cái chân của tôi bị tháo tung.

Tôi không thể bước thêm bước nào nữa cả. Tôi chẳng biết phải làm gì, cứ ì ra đấy. Rồi tay tôi cũng chẳng biết phải làm gì, chân tôi, cái chân đã biến thành chỉ tơ bắt đầu tự di chuyển. Nó bò ra nhẹ nhàng. Phần ngoài cùng của chân, không cần sự giúp đỡ của bàn tay tôi, bắt đầu tự tháo tung và như là một con rắn bắt đầu bao quanh người tôi. Khi cái chân trái của tôi tự tháo tung ra hết rồi, sợi tơ tự thay đổi, rất tự nhiên, quay sang chân phải của tôi. Chẳng mấy chốc, sợi tơ đã quấn đầy người tôi như gói trọn vào trong một cái bọc. Ngay cả lúc ấy nó vẫn không ngừng tháo tung tôi từ dưới mông lên đến ngực, từ ngực lên đến vai, và cùng lúc nó đang tháo chỉ, nó làm tăng độ bền chắc của cái bọc từ bên trong. Cuối cùng, tôi biến mất.

Sau đó, tất cả chỉ còn lại một cái kén rỗng.

A ha, rồi thì tôi cũng được nghỉ ngơi. Nắng hoàng hôn nhuộm cái kén thành màu đỏ. Đây, cuối cùng, là căn nhà của tôi, chắc chắn không ai có thể đuổi tôi ra. Điều đáng phiền bây giờ là tôi đã có căn nhà, nhưng tôi không còn “cái tôi” để trở về nhà nữa.

Bên trong cái kén, thời gian ngừng lại. Bên ngoài, trời tối đen, nhưng bên trong cái kén, luôn luôn là buổi chiều. Tỏa sáng từ bên trong, nó ánh ngời màu đỏ như màu của hoàng hôn. Cái điểm kỳ dị tuyệt diệu này rồi sẽ bắt được ánh mắt tinh tường của gã cảnh sát. Hắn nhìn thấy tôi, cái kén, nằm giữa hàng rào của con đường. Ban đầu hắn nổi giận, nhưng ngay sau đó hắn đổi ý về món đồ lạ này. Hắn cho tôi vào trong túi. Sau một hồi tí toáy cái kén, hắn chuyển tôi sang hộp chứa đồ chơi của thằng con trai.

Jiro nằm mộng sushi

kuruma-ebiakami

Ở nhà một mình, tôi xem phim no nê. “Black Fish,” “Jiro Dreams of Sushi,” “The Men Who Tread on the Tiger’s Tail”và “The Power of Myth.”

“The Power of Myth” (Sức mạnh của huyền thoại) dịch nôm na là sức mạnh chứ nếu bạn thích thì cứ gọi là sức thu hút hay quyến rũ của huyền thoại thì chắc chẳng ai bắt bẻ gì. Đây là một bộ phim gần như là giáo dục, do Bill Moyer phỏng vấn Joseph Cambell, một Giáo sư chuyên về huyền thoại nổi tiếng với quyển Hero and the Thousand Faces.

“The Men Who Tread on Tiger’s Tail” là phim thuộc nhóm samurai (võ sĩ đạo Nhật Bản). Nếu bạn thích loại phim samurai bạn sẽ thích phim này. Sáu võ sĩ, trong đó có một thiền sư, hộ tống một vị Lãnh Chúa (Lord) vừa bị mất ngôi vượt qua một cửa ải của quân địch.

“Black Fish” là phim tài liệu về những con cá orca (whale killer) được nuôi để biểu diễn trong Disney World. Phim rất hay, và cảm động. Bạn sẽ thấy những người đàn ông ứa nước mắt khi nói về loài cá thông minh bị giam cầm và ngược đãi, đi ngược lại với cách sống tự nhiên trong biển. Cá con bị bắt đưa đi chỗ khác, cá mẹ kêu khóc thống thiết một thời gian khá lâu. Phim cũng nói về sự gian dối của những người chủ nhân Disney World khiến người tham gia diễn những chương trình với cá đi đến chỗ mất mạng.

“Jiro Dreams of Sushi” là phim tài liệu về Sukiyabashi Jiro, một bậc thầy kiêm chủ nhà hàng sushi nổi tiếng ở Tokyo. Tôi đã xem phim này từ lâu nhưng không nhớ, bây giờ xem lại thấy thú vị. Người xem sẽ được đưa đi xem chợ cá nổi tiếng nơi người ta bán cá đấu giá họ rao nghe như hát. Phim có nhiều câu nói rất hay có thể trích dẫn trong những bài báo dạy học sinh chọn ngành nghề. Ít nhất bạn sẽ chú ý đến câu này:

Jiro: “Once you decide on your occupation… you must immerse yourself in your work. You have to fall in love with your work. Never complain about your job. You must dedicate your life to mastering your skill. That’s the secret of success and is the key to being regarded honorably.”

Khi mà bạn đã quyết định chọn nghề. . . bạn phải thấm nhập vào công việc. Bạn phải yêu công việc. Không được than phiền công việc của mình. Phải dâng hiến cuộc đời mình trong việc học hỏi cho nghề nghiệp tinh nhuệ. Đó là bí quyết của thành công và là chìa khóa để được kính trọng.

Tôi thì thích một đoạn ở chương thứ Tám. Nhà phê bình ẩm thực Masuhiro Yamamoto đã nói:

“When I ate the sushi, I felt like I was listening to music. Jiro’s sushi course is like a concerto. The meal is divided into three movements. Classic items, like tuna and kohada, are presented in the first movement.
The items in the second movement are fresh catches of the day.
The second movement is like an improvisation. It’s like a cadenza.
In the third movement, sea eel, kanpyo and egg comprise a traditional finale.”

“Khi tôi ăn sushi, tôi có cảm tưởng như đang nghe nhạc. Sushi của Jiro như là một bản concerto. Bữa ăn được chia ra thành ba đoạn. Những món sushi quen thuộc như tuna và kohada được dọn trước như đoạn mở đầu.”
Những món được dọn trong phần thứ nhì, đoạn chính của bài nhạc, là các loại hải sản thủy sản tươi bắt được trong ngày.
Phần thứ nhì tương tự như một đoạn nhạc được tấu tùy theo hứng khởi. Một đoạn độc tấu nhấn mạnh bài nhạc.
Trong phần cuối, lươn biển, kanpyo và trứng đúc nướng, là tấu khúc kết cục truyền thống. 

Giữa những câu nói là tên của những món sushi được đặt trên một cái đĩa màu sậm rất đẹp. Tôi thích ăn sushi nhưng chỉ ăn được món nấu chín, không mạnh miệng với cá hay mực, bạch tuột còn sống. Nhà hàng chỉ có mười chỗ ngồi, muốn ăn phải đặt trước một tháng, hai mươi món sushi, giá chót là 30 ngàn yen, khoảng hơn 280 Mỹ kim.

Hai cái ảnh bên trên lấy từ trong phim. Tựa đề lấy từ lời kể của ông chủ nhà hàng kiêm sư tổ sushi, ông yêu nghề đến nỗi nằm mộng thấy sáng tạo ra những món sushi. Đã 85, có lần bị bệnh tim vật ngã, nhưng ông vẫn chưa chịu về hưu giao nhà hàng cho con trai cả đã năm mươi tuổi (năm cuồn phim ra đời).

 

Sắp hết tháng 11

Bà chị của tôi ở Texas lên chơi. Không muốn đi chơi đâu cả, chị muốn đi thử xe lửa nên bảo tôi chọn một tuyến đường thật dài đi hết con đường rồi quay trở lại. Vì lúc đó cũng đã gần mười giờ sáng, gấp gáp không kịp chuẩn bị nên tôi đưa chị đi một tuyến đường không dài lắm, chỉ độ một giờ đồng hồ mỗi chuyến, đưa chị vào nhà ga xe lửa Penn ở New York, xuống xe lửa, chụp ảnh quanh quẩn, ra ngoài nhà ga chụp vài tấm nữa rồi trở về. Chúng tôi có thể làm nhiều chuyện khác, đi dạo phố, trời không lạnh lắm nhưng chị bảo thôi không đi.

Tấm ảnh chụp tiệm bán cà vạt làm tôi nhớ má tôi. Má tôi chỉ có một người con trai, bà rất thương vì anh có hiếu. Mười đứa con gái như tôi không theo bén gót anh tôi. Lúc anh mới lớn lên, đi làm xa, anh viết thư cho má tôi, nói rằng: “con mới dùng tiền lương đầu tiên mua cái cà vạt để đi chơi, diện với các bạn.” Má tôi, đọc thơ đến đó mũi lòng, chảy nước mắt than: “Tội nghiệp con tôi nghèo quá không có tiền để mua cà nguyên trái mà ăn, phải ăn cà vạt.” Má tôi vốn là bà bán rau cải, tưởng anh tôi nói chữ cravat (cà vạt) là loại cà chua hư thối phải bị cắt bỏ chỗ hư thối để giữ phần nguyên.

Ở bên ngoài nhà ga Penn, có một cô gái đứng giữ thùng tiền xin của khách qua đường để giúp người nghèo. Cô làm việc thiện nguyện giúp cơ quan Salvation Army. Đây là một cơ quan thiện nguyện thường họat động mạnh vào lúc gần Giáng sinh. Đa số những người làm việc quyên tiền là các ông bà lớn tuổi. Ít khi thấy một cô gái trẻ ăn mặc đúng kiểu thời trang như cô này.

Sau bữa tiệc lễ Tạ ơn một người khách trẻ dễ thương khi chào chúng tôi ra về đã nói kèm thêm một câu trả lại sự yên tĩnh cho chủ nhà. Hôm nay, bảy giờ sáng, cô lớn nhà tôi Ách Cơ sẽ dọn đi Kentucky với anh bạn trai. Bốn năm trước, cô đùng đùng bỏ đi cũng với anh này, cũng vào dịp Thanksgiving. Lần này cô nói với chúng tôi (bố mẹ) cho biết ý định của cô. Đàng hoàng người lớn hơn. Ông Tám sẽ lái U-haul chở đồ cho cô. Bảy giờ sáng tôi sẽ đưa cô nhỏ Cá Linh ra phi trường trở về Illinois. Sau đó thì căn nhà sẽ vắng lặng. Mỗi sáng thức sớm Nora sẽ lủi thủi đi theo tôi xuống nhà. Mấy hôm nay đêm nào Boyfriend cũng ngủ trong cái tổ ấm ông Tám dọn cho nó. Và căn nhà sẽ đông vui trở lại vào dịp lễ Giáng sinh.

Kể bạn nghe một vài chuyện xảy ra trong cuộc sống của người Việt ở Mỹ.

Xem phim The Insect Woman

Phim của đạo diễn Shohei Imamura. Kèm theo cuốn phim có lời bình của Dennis Lim. Ông Lim nói Imamura học nghề với đạo diễn Yasujiro Ozu. Cả hai đạo diễn này đều có tính chất Nhật Bản rất đậm nét, nhưng hai người ở hai thái cực trái ngược nhau.

Đây không phải là một phim dễ xem, dễ tán đồng. Có những đoạn phim làm tôi thấy khó chịu, với một chút ghê tởm. Nó làm tôi suy nghĩ về thị hiếu của tôi, về cái mức độ chấp nhận những khuôn mẩu nghệ thuật của truyền thống văn hóa phụ hệ. Cuốn phim này nếu đem phân tích theo quan điểm nữ quyền chắc chắn có nhiều điểm hay. Qua cuộc đời của nhân vật chính, Tomé Matsuji, đạo diễn đưa ra nhiều điểm cho tôi suy nghĩ về thân phận của phụ nữ Nhật Bản. Mở đầu phim là một bài hát, có lẽ là một bài dân ca.

O-wa-i-ya-re
Where, oh where
Has the baby-sitter gone?
She went to town to buy a dog
She’ll be back soon
If you don’t sleep
the mice will scamper over you
If you stay awake
the nightjars will fly off with you

O-wa-i-ya-re
Đâu, đâu rồi
Người giữ trẻ đi đâu?
Nàng đi xuống chợ để mua một con chó
Sẽ trở lại không lâu đâu
Nếu mà mi không ngủ
Con chuột sẽ bò lên người mi
Nếu mà mi thức
Con cú muỗi sẽ tha mi đi

Trong phim có nhiều bài thơ ngắn, của Tomé viết trong nhật ký. Tôi lười quay lại từ đầu để chép, (tính học làm thơ) nhưng mất thì giờ quá.

Tomé, nhân vật chính, và những người phụ nữ khác trong cuốn phim, được Imamura miêu tả yêu thích tình dục. Họ không đè nén, chay tịnh, đoan trang như đàn bà trong luân lý Khổng Mạnh. Tomé ở nơi hoang dã, rừng núi, nghèo khó, sớm biết mùi tình dục. Nàng bị hiếp, đặt tình yêu không đúng chỗ, có con hoang. Bản thân nàng cũng là con hoang được nuôi dưỡng săn sóc bởi một người đàn ông khờ khạo, tâm thần như trẻ con, tên là Chuji, là cha nuôi hay bố dượng của nàng. Khi Tomé bị một mụn nhọt trên đùi, gần hạ bộ, người thầy thuốc chữa bệnh cho nàng đã mút chất mủ trong mụn nhọt. Hành động này gây khoái cảm cho nàng, và gã đã vào giường với nàng. Tomé yêu một người có vợ. Khi hắn được lên chức phụ tá quản đốc trong hãng dệt nàng cùng làm với hắn, thì hắn bỏ rơi nàng, đồng thời nàng bị mất việc vì trước đó nàng họat động trong công đoàn để hỗ trợ hắn. Có thai, sinh con ra, nàng bỏ đứa bé lại cho Chuji nuôi còn nàng vào thành phố tìm việc làm. Cuộc đời đưa đẩy, nàng làm điếm, trở thành tú bà, nhân tình cũng là dụng cụ của một anh chủ mối (ma cô) rất giàu.

Phụ nữ trong phim Imamura rất mạnh mẽ. Trước sóng gió cuộc đời, họ chịu đựng và tìm cách trồi lên. Họ dùng mánh khóe, thủ đoạn để sống còn. Họ bị đàn ông cưỡng hiếp, lợi dụng, đánh đập nhưng khi có dịp họ cũng lường gạt, dùng nhan sắc, tuổi trẻ, bán mua thân xác, rút rỉa hầu bao, đàn ông. Họ có lúc cứu vớt những phụ nữ sắp chết chìm nhưng sau đó lại lợi dụng thân xác những người phụ nữ trong cơn tuyệt vọng như họ đã từng.

Đặt tên phim The Insect Woman, phải chăng Imamura ám chỉ số phận người phụ nữ  như côn trùng, như con giun cái dế, chúi nhủi trong đất cát, phải trồi lên để thở để sống? Qua phim này người xem cũng thấy quan điểm xoay vần, hại người thì người hại, cuộc đời là một sự tiếp diễn vòng tròn. Họ giúp nhau, lợi dụng nhau, ghét nhau, yêu nhau, già nuôi trẻ, trẻ nuôi già. Lần đầu tiên tôi xem một phim Nhật mà trong đó có hai người đàn ông khờ khạo. Họ được yêu thương bởi hai người đàn bà sương gió dạn dày bởi vì chính lòng chân thành trong sự khờ khạo của họ. Hai người đàn ông đần độn lại chính là người nuôi dưỡng đứa bé không phải là con của họ để người mẹ của đứa bé có thể đi xa và tìm cách sống.

Cuốn phim còn có tên là Pigs, Pimps, and Prostitutes, được xem là iconoclast, phá hủy thần tượng, đàn ông thì dâm ô, ngược đãi phụ nữ, đàn bà thì làm điếm để nuôi thân và nuôi con. Phim nằm trong Criterion Collection, ra đời năm 1963, cho thấy một xã hội Nhật Bản với những nét khốc liệt văn hóa từ cuối thập niên thứ mười cho đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhì với những vay trả, trả vay của cuộc đời, trong đó người đàn bà có khi là con chốt, có khi là nữ hoàng.

 

Cỏ màu và cúc bonsai

Thấy bạn chụp cỏ hồng ở Đà Lạt đẹp quá tôi sực nhớ ra tôi có gặp cỏ hồng rồi mà không nhớ gặp ở đâu. Lục trong computer tôi thấy ảnh cỏ hồng tôi chụp ở vườn bách thảo của New York lúc tôi đi xem hoa cúc.

Đây là vài tấm ảnh của hoa cúc và cỏ màu. Hoa cúc được trồng và uốn nắn theo kiểu bonsai.